truyền hình trực tuyến

Xem các kênh truyền hình trực tuyến Việt Namthế giới

Thứ Bảy, tháng 10 08, 2005

Truyện ngắn : Hoa Tre (tiếp theo)

2.

Chúng tôi làm web cho một số công ty, rồi tự tổ chức một trang web của chính công ty mình, mở forum, “choang” vào đó những chủ đề thời thượng, một mặt để giải trí, một mặt cũng là cách làm maketing cho công việc làm ăn của chúng tôi. Chúng tôi nhận được kha khá hợp đồng làm phần mềm và tổ chức mạng máy tính.

Với bố tôi, những hình thù trên màn hình hôm nay của tôi cũng giống những trò chơi điện tử tôi đã say mê năm ngoái, năm kia. Có lẽ vào thời sinh viên của bố tôi, mơ cũng không có được những máy tính mạnh như bây giờ… Tại sao uyên bác như bố tôi lại không nhận thấy thời gian đang làm cho mọi điều biến đổi?

-Vào tuổi của cháu, ông đã đi bộ vượt Trường Sơn, vừa đi vừa đánh biệt kích- Ông tôi tâm sự- Còn ở tuổi của cháu, bố cháu đã đi nghiên cứu sinh ở nước ngoài. Bố cháu rất tiến bộ.

-Cháu đang làm việc, cháu cũng đang tiến bộ.

-Cháu đừng ngang ngạnh như thế- Ông lắc đầu- Cháu đã đưa hồ sơ cho chú Phòng chưa?

Tôi bắt đầu buồn chán. Cứ nói đến chủ đề “tiến bộ” là lại thấy buồn chán. Va nhau chan chát. Có ba người đàn ông mà tranh luận mãi không xong. Tiến bộ theo ông và bố tôi, tức là phải thi công chức vào làm chuyên viên Bộ của chú Phòng. Ông ấy là học trò của bố tôi, giờ làm Thứ trưởng. Tôi trực tiếp nghe thấy chú Phòng bảo bố tôi, thày cứ cho cháu vào chỗ em, với năng lực của nó, đặt lên bệ phóng cũng là khách quan, không chiếu cố.

Tôi đã từ chối một bệ phóng để thăng quan tiến chức. Tôi là một đứa con hư hỏng trong con mắt của cả ông và bố. Tiến bộ tức là chỉ có một con đường quan chức. Ô hô…

Hôm ấy, tôi bèn đưa lên trang “Forum” của chúng tôi chủ đề: Bạn nghĩ thế nào là tiến bộ?

Khi tôi đang mở mạng để làm việc này, thì ngoài nhà, bà Nho và ông tôi chuyện trò rủ rỉ rù rì.

-Tôi cứ muốn về đó một lần, cái vườn tre ấy giờ thế nào nhỉ?- tiếng ông.

-Thôi, ông ơi, tôi không muốn nhớ đến cái vườn tre ấy nữa. Giờ đã thành phố xá hết rồi.

-Phố xá thế nào được. Chỗ ấy mấy tay huyện ủy đáng lý phải giữ lại làm bảo tàng chiến tích, có thể làm du lịch.

-Hồi ấy ông chả bỏ chạy khỏi đó còn gì?

-Bà cứ nói thế… Thời thế mà. Chúng tôi chỉ biết sẽ đi vào chiến trường, sao dám làm cho bà khổ?

-Không biết là làm cho nhau cùng khổ cả…

-Cả tiểu đội tôi phải lòng bà, yêu bà, tôi biết làm thế nào?

-Ông rõ chán. Hồi ấy tôi chỉ là một đứa bé con thôi. Các chú bộ đội đến thì ai cũng thích tuốt. Nhưng nhớ ông nhất vì ông đến không giống ai. Ai lại đi từ trên đỉnh núi xuống phía sau nhà bao giờ…

Câu chuyện của ông chắp nối suốt thời niên thiếu, khiến cho tôi có thể dựng lại toàn bộ câu chuyện tình lãng mạn của ông. Không, nói đúng ra thì đó không phải là một câu chuyện tình, vì ông và bà Nho chưa hề yêu đương ước hẹn một ngày nào. Thật chả giống chuyện của bọn tôi, nói yêu nhau sau đó vài tuần không biết hết nhau mọi chuyện thì thật là kỳ khôi. Và khi từ biệt cô nào là đứt đuôi con nòng nọc, có lẽ sau đó không bao giờ nhìn thấy nhau ở trên đời này nữa. Ôi cái thời của ông có hậu như cổ tích. Ôi cái thời của tôi nhanh như điện, tiện như máy tính.

Ông đến ngoại ô thị trấn ấy thì hành quân chiếm lĩnh trận địa trên một đỉnh đồi. Đêm đã khuya, nhìn ra xung quanh chỉ thấy lác đác ánh đèn vàng như đom đóm. Tang tảng sáng, định thần mới thấy dưới chân đồi là một lòng thung rất rộng xanh um màu lá tre, bên kia thung có vài nóc nhà.

Ông và một người lính nữa lần theo sườn đồi xuống thung tre.

Trời ơi sao mà lắm tre. Cả một vườn tre tuyệt đẹp. Miền Bắc lúc đó là chiến tranh phá hoại của giặc Mỹ, nhưng nông thôn thì vẫn yên bình. Đây là một thị trấn ven sông, gần con đường quốc lộ huyết mạch, dân thị trấn cũng phải đi sơ tán về nông thôn hết cả. Nhưng lọt giữa thị trấn lại có một vườn tre đẹp đến ngạc nhiên.

Hai trinh sát tiếp tục đi sâu xuống lòng thung, hướng về một ngôi nhà tháp thoáng trong xanh êm ấm của rừng tre. Vừa đi được mấy bước chân, hai người gặp một giếng nước trong vắt, một cô bé đứng bên cạnh giếng đang ngơ ngác nhìn lên. Đó chính là bà Nho hơn năm mươi năm trước.

-Cái giếng ấy… hai anh bộ đội đi đến, thản nhiên uống nước ngon lành, tôi sợ quá phải kêu lên, các chú ơi, muốn uống lên nhà cháu…- Tiếng bà Nho nhẩn nha…

-Tôi thấy nước giếng trong văn vắt… Có lẽ nhìn ra nuớc trong vì cái khác…

-Vì gì?

-Vì đôi mắt cô con gái đứng ở đó.

-Ôi cái ông này…

Yên lặng…

Tôi không thể tập trung tư tưởng để làm xong phương án web của tôi, tôi chuyển sang chơi game giải trí, sục vào trang web khiêu dâm thì toàn những cảnh chán phèo, một trăm trang giống nhau cả ngàn. Sao lại có những sở thích vô vị như thế. Tôi hỏi Thành:

-Em sắp cưới chưa? Người yêu…?

-Tuần trước thì có, tuần này thì không-Thành thản nhiên.

-Tuần sau yêu anh nhá?

-Vậy thì tuần sau xem thế nào?-Thành hơi cười- Tuần sau có thể tình hình sẽ khác, sao không hỏi ngay hôm nay?

Tôi cười khì:

-Anh phải bỏ người yêu đã chứ…

Bà Nho kêu lên:

-Cha mẹ ơi, tiên sư cái lũ này, chúng bay nói chuyện gì thế?

Tôi cười, còn Thành không cười gì cả. Có thể đọc thấy trong đôi mắt cô ta có nỗi buồn thất tình thật sự.

-Ông nghe chưa, chúng nó bây giờ thế có chán không?- Bà nói nhỏ nhẹ với ông.

Ông không nói gì, ngồi yên lặng, ông lấy tay lần lần chén nuớc, bà Nho đưa cái cốc nước vào tay ông. Thành nhìn thấy thế, quay đi thở dài, nói khẽ:

-Em đã hỏi bà em, ngày xưa bà yêu ông thế nào, đã có gì chưa, bà em chửi cha mẹ mày, ông ấy cầm tay tao đúng có một lần. Em cứ nghĩ: Thế sao lại yêu nhau lâu bền thế mà không chán. Có lẽ bây giờ yêu nhau lên giường ngay thì chỉ ngắn ngủi thế thôi…

Thành thoắt ngơ ngẩn, hiền hẳn và lạ hẳn. Cô nói buồn:

-Anh cũng như bọn con trai thời nay thôi, anh cũng yêu đương vội vàng rối rít như thế, tính chiến thắng bằng số lượng… Anh thử làm khác đi, như…

-Như ông anh và bà em hả?- Tôi cười ha ha- Thì lại bị cuốn vào giống mọi người, không biết mình rồi.

Cơn buồn bã của Thành bay biến từ lúc nào, cô ta hiện lại là một đứa ăn nói ghê gớm. Chúng tôi cãi nhau ba mươi phút, đến khi bà Nho bảo xuống ăn cơm, hai bên mới tạm lui binh. Bà Nho bảo:

-Bà nghe các cháu nói chuyện, bà thấy rõ là ông bà sắp xuống lỗ rồi.

-Sao vậy hả bà?

-Ngày xưa ông bà chả dám nói chuyện bỗ bã như thế. Có lẽ thời thế nó thế chăng?

-Thế nói thế nào hả bà?

-Nói thế nào… Khó nói lắm- Bà Nho nhẩn nha nói chuyện- Khi ông ra bắc bị thương, lần ấy là ba năm sau nhỉ?

Ông gật:

-Tôi về thung lũng tre nhà bà, chỉ có ông cụ ho húng hắng. Một gian nhà tối om, leo lét một ánh đèn. Cả phố đã đi sơ tán. Ông cụ bảo con bé cũng đi về quê rồi. Tôi thương ông cụ quá… Tôi loanh quanh trong vườn tre, cảnh vật đẹp mà hoang sơ buồn, tôi trở lại tính ở với ông cụ một đêm… Nhưng đến bữa trưa, tôi mới thấy mấy cô dân quân trên núi xuống. Họ đi đúng đường bọn tôi đi hồi xưa ấy. Họ lập trận địa trên đó mà. Các cô ấy xuống nấu nướng, cùng ăn với ông cụ.

-Khi ông đến nơi sơ tán, tôi bất ngờ quá, bỏ chạy ù té… Nghĩ lại thấy mình lúc đó đã mười chín, ở làng thì đã phải lấy chồng, thế mà vẫn trẻ con.

Mười chín tuổi, gần bằng Thành bây giờ. Thế mà Thành đã trải qua mấy mối tình, có bộ óc của một bà già, có trái tim chông gai tua tủa.

Bà Nho nói tiếp:

-Nhưng giá ông đừng về cái đận ấy thì chả phải khổ

-Sau đó thế nào, hả bà?- Thành hỏi.

-Chả thế nào cả, ông ấy ra đi, gửi cho bà một cái thư bảo tôi đi không có ngày về, bà cứ đi lấy chồng đi. Bà đợi đến khi có người ra báo là ông đã hy sinh, khóc hết nước mắt rồi lấy chồng. Năm sau đẻ bác con.

Tôi hỏi bà:

-Ông bà không thành, mới lại làm mối cho bố cháu với mẹ Thành chứ gì?

-Cũng có thế. -Bà cười ngặt- Ông ấy không nói nhưng khi dắt bố cháu đến nhà bà, bảo bà gọi mẹ con Thành lên, thì bà biết ý lắm. Nhưng mà ông trời không chiều lòng. Người ta có duyên số cả.

Tôi cười. Tôi tự nhiên mà cười không che dấu được:

-Bây giờ bà có định làm mối cho cháu và Thành không?

-Cha mẹ nhà các anh chị, ông bà bây giờ có mà mặc xác chúng mày. Đã bảo chúng tao đến thời xuống lỗ rồi.

Trong khi bà cháu Thành sửa soạn về thì bố tôi cũng bước vào nhà. Bố tôi đi thẳng vào phòng tôi:

-Hôm nay bố vừa đưa hồ sơ của con cho chú Phòng rồi đấy.

Tôi ngạc nhiên quá:

-Sao bố lại làm thế?

-A, hóa ra bố không được làm cái gì, hả?- Bố tôi nói sẵng.

Tôi đứng lên, tắt điện nguồn máy tính, tôi cóc cần thoát máy theo kiểu của Bin-ghết nữa, bây giờ tôi đang tức điên lên, tôi nói:

-Bố, con đã lập công ty đang làm ăn tốt

Bố tôi quắc mắt, ho lớn, quát:

-Mày chọn cách làm thuê hả?

-Không, con làm chủ.

Bố tôi cười khẩy, nhưng nét mặt méo mó. Bố tôi rất quý tôi, đứa con trai yêu dấu, ông cười khẩy vào cái công ty của tôi đấy, rồi nói:

-Đồ toi cơm. Đâu là làm thuê, đâu là làm chủ, hả? Bây giờ cứ có chức quyền thì mới làm chủ được.

Bà Nho vội vã vào, nghe thấy hai bố con tôi to tiếng với nhau, bảo:

-Bố con có chuyện gì nhẹ nhàng phân giải xem- Rồi bà gọi ông- Ông ơi, ông vào đây.

Bố tôi rất tức giận và trở lại phòng mình.

Ông tôi bảo:

-Thôi bà yên tâm về đi.

Bà Nho mang túi vào, để trên giá, nói:

-Tôi không về nữa.

Thành cũng xách cặp tài liệu vào phòng tôi, nói:

-Bà không về, em nghỉ ở đây vậy.

Tôi không nói gì, lại bật máy lên. Trình khởi động bị lỗi, vì tôi vừa tắt phụt điện nguồn. Tôi ngồi lặng lẽ ngắm nhìn Window đang sửa lỗi trên màn hình, tâm trạng ủ ê. Nếu không có máy tính, chắc sẽ đơn điệu và buồn chán lắm. Thế giới tôi đang sống thật sự là huyền ảo, bởi chính vì máy tính. Còn là sinh viên, tôi gia nhập câu lạc bộ “hac-kơ” (harker) trên mạng, thao diễn “crack” (bẻ khóa), rồi tôi có thể thò tay đến những chỗ rất xa, những nơi được bảo vệ cẩn mật. Trái đất đối với tôi bé lắm. Một cái bấm chuột là tôi đã đến đầu kia trái đất. Tôi dần dần biết nhiều điều mà người khác không hề biết. Giữ được lương tâm trong khi có thể ăn trộm dễ dàng mà không làm hại người khác thật là chả dễ dàng gì. Thời đại của tôi chắc mới nảy nòi ra những kẻ như tôi.

Thành nói nhỏ, kéo tôi từ thế giới ảo trở về với thế giới thực:

-Anh cứ làm quan chức như bố anh là sướng nhất. Sung sướng mà không phải mang danh ăn cắp bản quyền?

-Cái chết chính là thế, nhầm lẫn các giá trị, có những kẻ ăn trộm tiền thuế mà giàu có lên.

Thanh nhắm mắt, bảo:

-Lao vào con đường làm lụng như anh thì khổ lắm

-Tất nhiên, đã đến lúc nước ta hội nhập, anh mong tất cả đều đàng hoàng không phải ăn trộm nữa.

-Lúc ấy là bao giờ? Đã hết đời anh và em chưa, anh ơi…

Tôi quay lại. Thành đã nằm nhắm mắt trên giường của tôi, gối trên gối của tôi, vươn tay ra trắng ngần khiến tôi thoáng chút xao xuyến. Thành cũng là một phần mềm trời đang cho tôi ư? Tôi chỉ cần đóng cửa phòng, mà cũng có thể không cần đóng cửa phòng, vươn tay ra là có thể… crack được.

Tôi nghe thấy hai ông bà đang rì rầm chuyện ngoài kia.

-Ông cứ mạnh dạn đi mổ mắt đi, chắc là sẽ khá”

-Người ta mổ mắt được, tôi có phải mờ mắt bình thường đâu, tôi bị mảnh đạn văng vào.

-Ông cứ thử đi cho con cháu nó toại nguyện. Với lại, ông bảo ông về Vườn Tre một lần nữa cơ mà?

-Sao bà bảo người ta phá đi làm phố rồi?”

-Tôi bực lên nói vậy thôi. Ông cứ mổ mắt đi, nhìn thấy thì mới về được chứ?

-Năm đó, hoa tre ra, cả đời tôi không bao giờ thấy hoa tre, chỉ duy nhất cái lần ấy

-Ông phải đi mổ mắt thôi.

-…

Tôi ngắm nhìn Thành, Thành lim dim mắt… Tôi đã biết khối đàn bà. Thời cơ như thế này tuyệt vời lắm đấy. Nhưng tôi và Thành có thể là một ca khác. Tôi muốn tôi và Thành phải khác. Tôi đã biết những cuộc tình gấp gáp, quên trời đất rồi chia tay chán chê mỏi mệt. Cuộc sống tình cảm hiện đại hình như cũng cắt khúc những miếng măng chua dầm dấm đựng trong lọ bán ở siêu thị, nó không có cái vị thơm mê như món măng tre lồng ngộc vườn xưa. Tôi cứ ngồi nguyên ở cạnh giường, nhìn Thành liu diu trong giấc mơ gì? Bà bảo ngày xưa ông cũng chỉ cầm tay bà đúng một lần.

Chợt Thành choàng ngồi dậy, nói:

-Chăn gối anh hôi xì như tổ cú.

Tôi giật mình. Thành đã đứng lên, mắt long lanh như mắt cáo. Tôi hơi ân hận. Tôi vươn tay ra lúc nãy thì Thành có kêu hôi không?

(còn 1 kỳ nữa)

Đọc thêm!

Thứ Sáu, tháng 10 07, 2005

Truyện NGẮN : Hoa Tre

1.

-Bao gìơ con mới bớt lêu lổng đi?

Tôi chỉ vào màn hình máy tính, bảo bố:

-Con đang làm việc đấy chứ?

-Con nên thi công chức, đã ra trường rồi không nên bỏ phí thời gian...

Tôi không khoái lắm:

-Từ từ rồi tính, bố ạ.

Nhưng bố tôi đã bỏ về phòng, còn ông tôi thì đã đến từ lúc nào, đang đứng sau tôi. Tôi lầm bầm:

-Năm ngoái bố cháu nói như thế đúng, hôm nay thì không đúng”

Lúc đó tôi đang lần mò trên mạng để tìm chìa khoá một phần mềm làm ảnh động. Mạng Internet là một thế giới kỳ ảo. Có vô vàn khoá, cũng có vô vàn chìa khoá vung vãi ở đâu đó… Tôi bảo ông:

-Cháu là một tên “harker mũ trắng”

-Là sao?

-Là bẻ khóa, ăn trộm

-Thời của ông, nếu mắng nhau là đồ ăn cắp thì tệ hại nhất.- Ông buồn

-Ôi ông… Bẻ khóa mà đội mũ trắng thì có phải là kẻ gian đâu. Trên mạng nhiều đứa như cháu, chỉ là tìm kiếm, khám phá… Như một lữ khách lang bang nhiều khi thấy bất bằng chẳng tha…

Ông thở dài:

-Thời của ông đã qua rồi…

Ông đã nghỉ hưu từ hồi tôi còn bé, rồi mắt ông mờ dần, cho đến khi tôi vào đại học thì ông hầu như chỉ quanh quẩn ở nhà. Những câu chuyện của ông đã khiến tôi thuộc lòng. Thời của ông người ta ghét cay ghét đắng kẻ trộm. Bởi vì hồi đó hầu như không có kẻ trộm. Làng quê thời xưa của ông, nhà nọ liền nhà kia, chỉ ngăn bằng một hàng rào lửng bằng cây râm bụt, cây ruối… Nhà nhà đêm ngủ không đóng cửa. Nhà nhà chìm dưới màu xanh của rặng tre… Tôi nghe ông kể mãi, thành quen thuộc đến nỗi ký ức của ông truyền sang tôi lúc nào không biết, và nó biến thành mộng tưởng của tôi. Chuyện của ông nhập vào những câu chuyện cổ tích có thần thánh râu trắng, ruộng đồng tinh khôi và con người thì mộc mạc tốt vô cùng. Ôi thời của ông anh hùng lãng mạn. Ôi, thời của tôi kẻ trộm đã quá nhiều… Vào thời của tôi, nội hàm của từ “trộm” hình như đã khác với thời cổ tích của ông. Biến dạng của hành động trộm cũng đã muôn hình muôn vẻ. Ông buồn chỉ vì tôi dám đùa giỡn với một khái niệm bị thời của ông ghét bỏ. Ông không cần biết khi có máy tính, con người ta thay đổi thế nào…

Tôi bảo ông:

-Cháu muốn làm việc của cháu. Lập một công ty, rồi tự tay làm nên…

Ông nhíu mày khiến cho kính trễ xuống, mắt ông kém lắm nhưng vẫn còn trông thấy lờ mờ, chắc ông đang cố gắng hình dung ra tôi thế nào. Còn bố tôi thì lại đã ra khỏi phòng chuẩn bị đi làm, đang hừ hừ ho khúc khắc. Tiếng bố tôi rành rọt:

-Thằng ấy ra trường thi ngay làm chuyên viên, ba năm sau thì lấy bằng thạc sĩ, hai năm tiếp theo xong cái tiến sĩ, ba năm nữa… Vị chi là tám năm sau khi ra trường đã lên Vụ phó ở tuổi ba mấy…

- Sao nghe nói nó học kém hơn cháu?- Ông tôi nói

-Bố nó lại về hưu rồi.- Bố tôi nói

-Cho nên cháu có điều kiện hơn nó- Tiếng ông tôi

-Mỗi người một việc. Sao con lại cứ phải như anh ấy?- Tôi bèn nói.

-Cháu ơi, cuộc đời còn trẻ thì phải phấn đấu, bao giờ cũng phải xông lên hàng đầu.

-Thưa ông, đúng là phải xông lên hàng đầu, nhưng hàng đầu ở đâu ạ?

Bố tôi bắt đầu bực, giọng cứng lên:

-Không cả biết hàng đầu ở đâu? Con nhà hỏng to rồi.

Tôi bắt đầu tính bài chuồn. Bố ít kiên nhẫn, tôi mà nói câu nữa, chắc ăn quát inh ỏi lên ngay. Và sau đó, ông sẽ bảo bố, anh nên ăn nói với con ôn hòa một chút, tôi có bao giờ quát anh như thế đâu. Rồi bố tôi sẽ ậm ừ phân trần rằng “nhưng con có cứng đầu như nó đâu”… Hai người đàn ông bề trên của tôi rất không hợp nhau, nhưng khi nói về tương lai của tôi thì lại nhanh chóng nhất trí với nhau.

Bố tôi thường vắng nhà nhiều ngày. Cuộc đời của bố chính là những chuyến đi. Hồi đầu tiên, bố đi học nước ngoài. Sau đó về nước, dạy trường đại học thì đi công tác liên miên. Đến khi có chức vụ kha khá thì lại thường đi họp. Ông tôi có lúc bảo tôi, cháu phải thông cảm với bố cháu. Tôi biết ông nhìn thấy hình ảnh của ông xưa kia, ông đã đi biền biệt chiến trường, bà nhẫn nại nuôi bố, rồi sau đó nuôi tôi. Còn mẹ tôi thì đã bỏ ra đi từ khi tôi mới lên mười, có lẽ không chịu được cảnh bố tôi cứ đi nước ngoài mãi không về. Mọi người thường bảo tôi giống tính mẹ ngang bướng và quyết liệt. Có phải điều đó khiến cho bố càng xung khắc với tôi.

Tôi lỉnh về phòng riêng, bật máy và bắt tay vào làm việc. Thế giới nhà tôi gồm ba người đàn ông, khi gay cấn không có sự hòa giải của phái nữ, tôi rút ra bài học kinh nghiệm là mỗi khi xung đột, tốt nhất là rút lui bằng cách tự cấm vận, cách ly với phần còn lại của gia đình. Nhưng hôm nay, khi tôi vừa định úp tai nghe lên thì nghe thấy tiếng bà Nho.

-Tôi có cái này mang biếu ông đây- Bà Nho xách một cái làn nặng.

Tôi nhìn thấy Thành lấp ló sau lưng bà. Thành cháu ngoại bà Nho, rất giống bà ở dáng người cao ráo, mắt sáng trong.

Tôi ngồi trong phòng nhìn ra, đằng sau bóng hai người đàn ông, là bóng dáng hai người phụ nữ, chợt căn phòng ngoài ấy rộn ràng và ấm cúng hẳn.

Bà Nho vừa nói, vừa móc trong làn ra những thứ mang biếu ông. Trời ơi, đó là cái măng to tướng, thô lố như cái mũ cối. Tôi chưa nhìn thấy cái măng nào to ụ như thế. Ông đưa tay sờ sờ vào bề mặt xù sì của cái măng đã bóc vỏ, ông nở nụ cười vui vẻ lắm.

-Lồng ngộc hả?- ông hỏi bà.

-Ôi, cái ông này, bây giờ làm gì có lồng ngộc cho ông. Măng trồng công nghiệp nghe nói để xuất khẩu đấy.

-Thế thì ăn ra gì?

-Thời nay có măng của thời nay.

Bố tôi bắt đầu mặc comple, nói:

-Hôm nay hai bà cháu ở đây ăn cơm với ông cháu, con phải đi họp bây giờ.

-Sao anh cứ họp liên miên thế?

Bà Nho nói xong, bố tôi đã bước ra cổng rồi. Ô tô đã lù dù đi đến.

Bố tôi thường không ăn cơm nhà, tôi ăn thế nào cũng xong, nhưng còn ông thì không thể ăn uống thất thường. Bà Nho đi đến nhà tôi phải mất chục nghìn xe ôm, nếu đi xe buyt mất nửa tiếng đồng hồ, đi lại diệu vợi, nhưng ngày nào bà cũng đến một lần.

(còn nữa) Đọc thêm!

Thứ Năm, tháng 10 06, 2005

Cách nghĩ lấy quan làm gốc

Khi ách tắc giao thông đô thị, quan chức Hà Nội bèn nghĩ ra cách cấm đăng ký xe máy ở các quận nội thành. Khi có nạn rải đinh, các quan chức TPHCM liền dự kiến quản lý người vá xe bằng cách cấp giấy phép cho... nghề vá xe. Trước nguy cơ thiếu điện trong thời gian tới, quan chức ngành điện nghĩ ngay ra cách thay toàn bộ bóng đèn sợi đốt bằng bóng đèn compact, tiến tới cấm hẳn sản xuất bóng đèn tròn sợi đốt...v.v

Đó chỉ là 3 sự việc nổi lên mà giải pháp nhà quản lý đưa ra, công khai cho bàn dân thiên hạ, chứ không nói đến cung cách giải quyết các thủ tục hành chính khác ít người biết, chỉ có đương sự lãnh đủ sự nhiêu khê...

Cấm đăng ký xe máy, nhưng chưa có đề tài nghiên cứu hoặc cuộc thanh kiểm tra nào kết luận xem xe máy trên đường phố thủ đô có giảm đi hay không? Nhà cần một cái xe máy, dù có lệnh cấm nhưng vẫn phải mua, thế là mua xe của người bán xe, cộng với dịch vụ đăng ký xe nữa, là được cái giấy đăng ký tên người lạ hoắc, và cứ việc lưu hành xe.

Không có ai đảm bảo rằng, cấp giấy phép cho những người vá xe thì bọn rải đinh sẽ không rải đinh nữa. Tuần vừa qua, công an Hà Nội bắt được một nhóm 3 thanh niên rải đinh, thực ra chúng không phải là người vá xe, vậy giải pháp cấp giấy cho người vá xe có liên quan gì đến chuyện này?

Các cấp ngành điện và các quan chức ngành kế hoạch đã tốn kém biết bao nhiêu tiền bạc, giấy mực để hoạch định kế hoạch, làm tổng sơ đồ điện này nọ, thế mà đùng một cái, việc thiếu điện hiện lên ngay trước mắt. Các nhà quản lý điện viện lý do “tốc độ phát triển quá nóng” thật là không nghe được. Tốc độ phát triển GDP luôn mấp mé ở mức thấp so với kế hoạch, sao có thể nói là “quá nóng”? Nhưng ngành điện vẫn có cách giải quyết là tìm ngay ở lỗi người tiêu dùng, mà không cần biết đến nhu cầu vốn đa dạng, không phải mọi thứ đèn đều có thể thay hết bóng đèn sợi đốt bằng đèn compact?

Còn nhớ, cách đây vài năm, các nhà quản lý nhà nước đã hết sức cổ vũ cho việc thực thi Luật Doanh nghiệp, bỏ hàng trăm giấy phép vô lý, nay xem chừng nạn đẻ ra các giấy phép vẫn hoành hành. Khi không đẻ được ra giấy phép thì dùng ngay lệnh cấm là dễ nhất. Quan chức tìm giải pháp cho các chính sách quản lý nhà nước theo kiểu ấy quả là lấy quan làm gốc, trăm sự sửa lỗi đổ lên đầu dân cả.

Đọc thêm!

Thứ Ba, tháng 10 04, 2005

Cách tân của Thuận?

Đây là một đoạn diễn thuyết của một nhà văn có tên là Thuận (không có họ):
"Một thế kỉ trôi qua, đủ để thi ca Việt Nam làm vài cuộc cách mạng, từ thơ có vần đến thơ không vần, thơ siêu thực, thơ tự do, thơ mini, thơ đàn, thơ nhạc, thơ không lời, thơ bãi rác, thơ dơ..., những thơ chưa được đặt tên, gắn với tên tuổi của Trần Dần, Lê Đạt, Hoàng Hưng, Nguyễn Hữu Hồng Minh, Nguyễn Quốc Chánh, Phan Bá Thọ, Lý Đợi, Bùi Chát, Khúc Duy... Trong văn học Việt Nam đương đại, có lẽ những cách tân quyết liệt nhất, cả về hình thức lẫn nội dung, đều đến từ các thử nghiệm trên địa hạt thi ca, song những cách tân đó lại đứng ngoài sự tham gia của các nhà phê bình chính thống, nhà nghiên cứu, nhà xuất bản, nhà truyền thông, các giải thưởng, các tầng lớp, thế hệ độc giả... Ít ai để ý đến điều ấy. Ít ai biết rằng chính nó là một trong những viên gạch dựng lên bức tường giữa thi ca và văn xuôi Việt Nam
Tôi cho rằng sự dễ dàng đã bóp chết tài năng, ngay từ khi nó mới lọt lòng. Có lẽ vì thế Việt Nam mới chỉ có các tác phẩm đầu tay, và các tác giả trẻ mãi không già. Ngay từ lần ra mắt đầu tiên, người ta đã có thể trở thành tiêu điểm của nhiều bài báo, được giới chuyên môn ban cho những lời có cánh, được ngồi cùng mâm với các cây đa cây đề làng văn. Bữa cỗ thường kéo dài vài năm, có trường hợp chẳng bao giờ tàn. Lâu lâu mới có một dịp hành nghề, lại chỉ để củng cố cái tên đã vững như bàn thạch, mấy ai trở thành chuyên nghiệp?"

Nhà văn này nói gì lảm nhảm vậy?
Cuốn tiểu thuyết “Phố Tàu” được giới báo chí, đặc biệt là báo chí phía Nam vồ vập, nhưng dư luận và các nhà phê bình lạnh nhạt. Nếu cách tân tiểu thuyết ngay từ tên tác giả bằng cách bỏ đi cả họ thì xin Thuận cứ cách tân đi. Đến một ngày tất cả cùng bỏ họ và tên đệm đi, chúng ta sẽ gặp tổ tiên cách đây bốn nghìn năm. Cách tân của Thuận muôn năm. Dường như Thuận quá tự tin?

Đọc thêm!

Thứ Hai, tháng 10 03, 2005

An Lạc dưới trời- Blog 2: Ba Bị kể chuyện

Tóm lược: Để đánh lạc hướng quân tướng của họ Trịnh, tướng của Nguyễn Hoàng đã làm cho mọi người lầm tưởng họ cũng đang tìm lạc thú ở kinh thành, không tính chuyện thiên di...

(Ba Bị kể chuyện)

Ông Bá Hoè vừa là tác giả, vừa là người tham gia vào tấn tuồng lạc thú. Tất cả diễn ra dưới mắt ông ta, ông ta bảo tôi, tao thấy vừa buồn cười vừa muốn khóc. Mãn cuộc chơi, ông già Lê Ban ngồi như một cái tượng vô hồn. Càng về cuối, gánh nặng tuổi tác càng khiến cho ông già ấy bị đẩy ra ngoài lề, giống như kẻ ngoài cuộc. Thành ra, ông chỉ gương mắt ếch ra mà nhìn. Người ta cứ bảo người già như ông Ban trong tình huống này thì khá thương thay, ô hô, tôi bảo chả có gì phải thương. Cái vũ khí của ông ấy, dùng cho đến bây giờ đã cùn mòn, vậy còn cố làm gì. Không thương. Làm kiếp chó mèo ở cung phủ tướng soái, rốt cuộc ông ăn sung mặc sướng, ông kiếm cho ông bao nhiêu cái hĩm gái đẹp, giờ còn tiếc gì. Nhưng mà ông ấy chắc chưa bao giờ chứng kiến sự phô diễn sức lực đàn ông cuồng nhiệt như thế, chưa bao giờ ông ta nhìn thấy sức hấp dẫn mê man của đàn bà như thế. Đời quan lại của ông ta, dấm dúi với hàng bao nhiêu con đàn bà, nhưng chắc gì ông ta có thể nhấm nháp được niềm vui sướng như hôm nay. Đời người ta hơn nhau ở chỗ ấy thôi.

Đấy là khi ông Bá Hoè bố trí màn trình diễn có nhân vật chính là tôi, thằng Ba Bị. Ông Ban và ông Trịnh được bố trí ngồi vào một chỗ khuất, để cho họ nhìn thấy cảnh tượng hành lạc trong một màu đèn đỏ man dại. Tôi phải ra tay giúp lão Bá Hoè. Tôi bảo: Tôi không khác cái thân con chó, giữ nhà cho ông, giờ sủa tiếng thị uy cho ông. Bá Hoè cười nịnh bảo mày đâu có làm vì tao, còn vì Triệu Quận công và Quốc công nữa. Tôi tức chửi ầm lên, tiên sư nhà ông, thích thì thằng này tình nghĩa giúp rập, sao phải mang cái bóng quận với công ra. Ông ta thì thào: Vách có tai, nhưng tao biết mày không làm lộ, chỉ tội đầu mày đặc một tý thôi: Trong khi chúng ta lôi kéo chú ý của Đô đốc họ Trịnh vào hành lạc, thì quân gia của Quốc công và Triệu Quận công đang lo việc lớn.

Thế là tôi phải trình diễn màn hành lạc cho chúng nó xem. Bá Hoè bảo, tao biết thừa cái thú tính của con người, khi nhìn đồng loại giao phối, nó vừa kích thích người ta, vừa làm mê muội người ta, trong con người ta vừa dậy lên sự khinh bỉ nhơ bẩn, lại vừa thích thú ngấm ngầm. Lúc ấy dòng máu thú vật hiện trở lại, khiến cho tâm trí dậy lên thèm muốn chiếm đoạt, muốn thoả mãn và sự thoả mãn ấy mới là tận cùng lạc thú hay sao ấy? Trước khi làm việc này, tôi đã phải giữ bài tập thở, uống bài thuốc gia truyền "xuân luyện". Khi hành sự, tôi như là một thằng tượng được đúc bằng đất, trơ lỳ, gan góc mà có hồn đàn ông nguyên sơ, hồn giống đực, còn con đàn bà trẻ thì kêu oai oái lúc như mèo cái, lúc như lợn bị chọc tiết, lúc lại như chó đi tơ. Cái âm thanh phối giống ấy làm cho ông lão sáu mươi quan hầu cận và làm cho ông tráng niên đô đốc quận công ngồi thì im mà máu đang sôi lên trong huyết quản, ngứa ngáy từ làn da đến xương cốt. Trong khi tôi vẫn đi lại như không, tôi biết những vị khách quý kia đang như có con ngựa bất kham trong người, có con dê núi trong máu. Tôi đón tiếp một đứa khác, nét mặt chắc là thoả mãn tột cùng. Bởi vì tôi không làm ra vẻ thoả mãn, mà đúng là thoả mãn. Hai người khách của ông Hoè đã trố mắt lên mà kinh ngạc nhìn cuộc truy hoan của tôi. Lại một đứa đàn bà khác nữa vào với tôi. Tôi cảm thấy mình đang làm cho cả thế giới đàn ông phải bái phục sát đất. Mẹ sư cha các ông quan lớn quan nhỏ, cuối cùng thì các vị hơn tôi gì nào? Cái của giấu trong đũng quần của các vị chắc gì đã dùng được cho đời, ươn hèn vô dụng. Còn đây, cái vũ khí đàn ông của thằng Ba Bị này cứ trơ như sắt nguội, hiên ngang chĩa về phiá trước. Tôi thở bụng, trong tôi như có một ngàn ngọn lửa, tôi đang đốt cháy lên từng ngọn một.

.....

Lão Bá Hoè chợt trở nên lắm điều, lão nói: Cứ tưởng đơn giản là có của ăn của để, có quyền dưới một vài người, trên muôn vạn người là sung sướng. Hoá ra đếch phải. Phải biết cách sướng thì mới sướng được, Hào ơi. Ông tướng kia, anh hùng là thế, lâm trận chém đầu giặc không ghê tay, thế mà khi lâm trận đời thì thua mày, thằng Ba Bị. Nói gì gì thì nói, cái năng lực giống người của mày vẫn hơn ông tướng lá ngọc cành vàng. Đi buôn thì chỉ có tớ là nhất, tớ tìm thấy sự sung sướng trong hành động kiếm tiền. Ông cũng đã từng thi thố hành lạc với mày, Hào ạ, nhưng rồi ông cũng thua, hiềm nỗi ông không thể thách mày thi kiếm tiền, cũng như ông tướng Trịnh không thể thách thằng Ba Bị cầm quân. Cái sướng nhất phải là tự biết mình sung sướng. A ha... Cơ mưu thì ông đô đốc quận công họ Phạm trên tài ông đô đốc quận công họ Trịnh, ông Triệu quận công tìm thấy sự sung sướng trong cuộc đọ trí để phù chủ của mình, giống như cái thú của người đánh cờ đi được một nước cờ hay. Ông Phạm Ngô Cường ấy đã chầu rìa nhìn thấy ông huyện Vinh thắng ông Xã Cánh một ván cờ, mà vỗ đùi ba cái, cười ha hả mấy ngày liền. Ông Huyện Vinh thắng cờ đã khoái, có chầu rìa hưởng ứng thì cái khoái tăng lên mấy ngàn lần, ra công đường chợt độ lượng, tha thứ cho cả kẻ trộm đạo. Cái thú sung sướng của con người hoá ra đếch giống nhau mà phải biết tuỳ thời, tuỳ người. Thế còn ông già Thái uý Quốc công thì sung sướng như thế nào? Còn ông trẻ Tiết chế Vương thì sung sướng như thế nào? Tớ đã nghe lỏm được ông Đàn Quận công họ Trịnh bảo lão già Ban: "Người ta cứ nói họ Nguyễn tính kế gì kế gì, hoá ra chỉ là ra sức tìm nghệ thuật sung sướng. An Lạc là đây. Kinh thành là chốn lạc thú số một. Lão già Thái uý Quốc công ấy đi đâu rồi cũng quay về chốn lạc thú này". Này Hào ơi, tao thấy có lẽ lão Đô đốc Đàn Quận công này có cái sai lầm. Lão đã mang cái nhìn ước ao sung sướng của lão gán cho con mắt thèm muốn sung sướng của người khác.

Đọc thêm!

Chủ Nhật, tháng 10 02, 2005

An Lạc dưới trời- Blog 1: Kỳ Hoa tự sự

Bắt đầu từ hôm nay, tôi post tóm lược một số đoạn đáng chú ý của

  • tiểu thuyết An Lạc dưới trời

  • 1.

    Kỳ Hoa con quan tri huyện Giáp Sơn, do phá đám hội hát đúm mà bị Xã trưởng Thủy Sơn đuổi bắt, nhưng được 1 người là Ba Bị cứu thoát. Hoa đến tìm Ba Bị để cám ơn thì gặp người đàn bà ở với Ba Bị. Hai người hiểu lầm, đánh nhau vô tình đúng lúc người đàn bà ấy đẻ non rồi chết. Đoạn sau đây là tâm sự của Kỳ Hoa

    (Kỳ Hoa tự sự)

    Cô gái từ đám tang của Gái trở về như là biến thành người khác. Suy nghĩ mung lung... Tôi là cô ấy đấy. Tôi trở về nhà, đóng cửa buồng, nằm nghĩ ngợi mấy ngày. Vừa mới hôm qua, thiên hạ toàn những chuồn chuồn với bướm, triền đồi và bãi sông, vùng vẫy với đám trẻ choai, mặc kệ việc người lớn. Thế mà hôm nay, hình như tôi đã tham dự vào gầm trời của chính những người lớn ấy. Nào là đánh bắt, nào là chửa đẻ, nào là sống chết... Thật là cuộc đời đấy ư? Sư Thành thường lần tràng hạt bảo, đời là bể khổ, hoá ra là đúng lắm sao? Bể khổ, bể khổ. Tôi đã thấy Gái oằn người sinh nở rồi chết. Tôi đã thấy một con người vừa ra đời đã khóc váng lên như ai đánh nó đau lắm. Tôi đã thấy Ba Bị hảo hán khóc như vắt ra nước. Đời không đơn giản.

    Một người con gái, số phận khác chi giọt mưa sa, giọt rơi xuống giếng, giọt ra ngoài đồng. Tại sao trời sinh ra tôi là con gái, mà không phải con trai? Phải sinh con đẻ cái, như là Gái, có khi gặp thằng Ba Bị lại theo không dứt ra được, chứ không được vẫy vùng ngang dọc như Ba Bị? Có khi như bà Lại, hàng ngày xêng xang đi đâu cũng sĩ diện vợ ông Lại, ở gần đám bán rau cũng che mũi kêu hôi, thế mà bám lấy Ba Bị đến nỗi tính trăm kế để lừa ông Lại, ngủ với Ba Bị. Thế là sao?

    Đàn ông có bao nhiêu hạng. Hạng chót vót như thiên tử, hạng dưới nữa là vương công khanh tướng, có hạng như Tri phủ Thái Hoà luồn lọt bậc thầy, bóc lột bậc thầy, có loại như bố tôi tri huyện Giáp Sơn, có hạng Bá Hoè, có hạng Xã Cánh và có hạng Ba Bị. Còn đàn bà thì ít hạng lắm. Bà Ba, Bà Tư, mẹ đĩ, mẹ mướp, cho đến công chúa hoàng hậu, cuối cùng cũng chỉ làm của riêng của đàn ông, rồi thì đẻ con, lại đẻ con. Ăn uống theo một người đàn ông, lo lắng theo một người đàn ông. Rồi mình cũng thế thôi...

    ..... (cắt 1 đoạn 1000 chữ)

    Tại sao mẹ lại chết? ối người cùng lấy một ông chồng có sao đâu? Giá như bố không phải là ông huyện, có nhẽ u vẫn sống. Nếu như u cứ cày cấy quanh năm, chả ông nọ bà kia gì cả có khi lại hay. Những người làm ruộng, đói thì đói thật đấy, nhưng họ khó chết lắm. Đấy là một bậc sung sướng. Những khi được mùa, đàn ông không đi lính, thóc cứ đầy bồ, đẻ thật nhiều con, thì lại là một bậc sung sướng nữa? Nhưng mà cái sung sướng sinh con đẻ cái lập thân nó hiếm hoi lắm. Vướng vào nó là vào bể khổ. Bể khổ mà không ai tránh được. Sư Thành hay nói về bể khổ, không có lẽ ông sư ấy lại thấu bể khổ hơn người tắm bụi trần. Lúc đầu, tôi tưởng Ba Bị cũng sung sướng, đâu cũng là nhà, bạ đâu cũng là gường, đàn bà theo tới tới, tự do vô cùng tận. Nào ngờ, đùng một cái, hắn cũng chịu số khổ, phải gà trống nuôi con một mình. Hắn ta đã thành đàn bà. Có lẽ thế cho nên hắn ta không để ý đến đàn bà nữa. Bà Tư Xã Cánh hôm vừa rồi bảo: "Thằng ấy bây giờ lại cái rồi, tao sờ vào nó, chỉ thấy một con giun to tướng". Một đứa con khiến người ta biến đổi đến thế ư? Bao giờ Kỳ Hoa này có một đứa con, không biết biến đổi đến thế nào? Muốn vậy phải lấy chồng? Nhưng chả muốn lấy chồng, phải làm sao? Ba Bị dâm dê là thế, làm cái việc nuôi con của đàn bà mà mất cả tính đàn ông. Tôi muốn không làm đàn bà, vậy thì phải làm việc đàn ông. Hàng ngày phải học thi thư, phải múa võ... Nhưng võ nghệ chưa đâu vào đâu, đã vập vào chuyện tày đình mang vạ vào thân khiến cô Gái vợ Ba Bị phải chết... Ôi thi thư! Nếu ta muốn thoát khỏi lốt đàn bà khốn nạn, phải học hành chăng?

    Từ đấy, tôi chăm học hành, chí thú chong đèn đọc sách. Mỏi mệt, chỉ len lén ra vườn chuối tập võ một mình. Là vì đã vận động quen rồi, chỉ mươi hôm ngồi rồi, cô con gái mới lớn là tôi thấy như nặng nề thêm, không múa may tay chân không được. Thật lạ. Song, càng như vậy, tôi càng lớn phổng lên, thấy đi lại nhẹ như không. Một hôm, đến cổng phủ đường, bà Lại ở Phủ nhìn thấy tôi, bà bảo: "Mới có mấy tháng, không thấy cô mà nay đã nhớn thế này, lấy chồng được rồi". Tôi chỉ nói: "Không". Bà Lại cười tít mắt: "Không cái mồm. Cô mà không tôi cứ đi đằng đầu". "Bà thì biết gì?". Bà Lại lại hi hí: "Cô thế kia, vượng phu ích tử lắm đấy". Tôi nhớ chuyện người ta nói bà ta mê Ba Bị, tôi càng lạnh: "Phu với tử cái gì, tôi còn bé". Bà Lại bèn không nhịn được nữa, bắn một tràng, quết trầu văng vào tay áo tôi một nốt nâu sậm trông kinh khiêp: "Bé mà đi với thằng Ba Bị à? Hay là nó làm cho cô nảy nở lên đấy". Tôi cáu quá, bèn giang tay tát cho bà Lại một cái. Bà Lại nhảy như choi choi: "Cô cậy là con ông huyện mà láo với người lớn à? Về mà soi vào nồi nước đái xem có phải không?". Ông Xã Tùng bảo, cháu tát nó là không được, nhất là đừng làm ở chỗ công đường, nó còn nể bố cháu chứ nó mà kiện lên quan phủ thì gay go to, lão Phủ ấy sấp mặt lắm. Ông Tùng nói xong, chậc lưỡi liên hồi ra vẻ tức giận, thời thế thật là đảo điên, bọn thơ lại ở phủ luồn lọt thế mà cũng coi quan tri huyện chả ra gì, cũng là vì lão tri phủ chả ra gì. Thời thế đảo điên...

    Một hôm, Hoe chạy đến tìm tôi, khóc dấm dứt, bảo em đi lấy chồng đây, nói xong ồ lên khóc thật to. Hoe bị phải lấy một ông thuyền chài chết vợ, bằng tuổi bố Hoe. Thế mà Hoe đã ngủ với một anh chàng khác rồi. Anh kia cũng thuyền chài nhưng chả có tiền của gì cả, chỉ đi làm thuyền thuê cho lão sắp lấy Hoe. Hoe bảo chị ơi em làm thế nào? Tôi buồn xỉu, bảo tao chả biết làm thế nào cả. Khóc chán, Hoe bảo thôi đành phải thế vậy, nhưng chị ơi, khi lão ấy lại gần, toàn mùi cá thối, em tởm lợm lắm. Còn anh ấy thì... Hoe thở dài, lát sau chùi nước mắt bảo, chị ơi, hôm nọ mẹ em bán cá cho bà Lại, bà ấy nói con gái tri huyện Giáp Sơn vú to mông nẩy, mắt long lanh, tóc mai quăn, lông dưới xoăn tít, dâm như dê cái. Tôi nghe Hoe nói thế, giận mụ Lại điên người. Thấy như có cái roi vô hình quất vào người. Cái thú trai gái có gì mà kinh tởm và ma quái thế nhỉ? Sao mụ ta biết mình? Hoe bảo, thế chị đã... ấy chưa? Tôi ngạc nhiên, mắt trợn lên bảo Hoe, tao ỉa vào cái chuyện đó. Hoe bảo, thế thì chị khổ đấy. Khổ thế nào? Sao ai cũng bảo tao khổ là thế nào? Cái Hoe lại bảo, à em quên, thế thì chị sướng đấy. Cứ như em, bây giờ mới khổ, thôi chị đừng bao giờ phải lấy chồng chị nhá. Cái Hoe thôi khóc, chào rồi đi. Tôi nhìn theo nó, linh cảm thấy đây là lần gặp cuối cùng. Vừa hôm qua nghịch như quỷ sứ, hôm nay đã lại chui đầu vào thòng lọng gả bán rồi. Chuyện ấy có gì mà sướng khổ cách nhau gang tấc thế?

    Tôi trở về nhà, đóng cửa buồng thật chặt. Tự xem mình. Khi toàn bộ y phục tuột xuống, đúng là phía dưới có một rừng đen xoăn mê tơi. U ơi, đúng là bà Lại nói đúng. Tôi lướt tay vào qua cái bụi rậm ấy, mọi thứ đều nảy nở, cứ như hạt bưởi mùa xuân sắp lên mầm vậy. Tôi thấy ngây ngấy như là lên cơn sốt. Từ trong cái khu rừng rậm tí xíu ấy, một dòng nước trong ri rỉ chảy ra, mùi thoang thoảng rất khó tả, trong đầu chợt nhớ lại cảnh Gái vỡ ối, bỗng rùng mình, một dòng cảm giác vô hình rung động suốt từ đỉnh đầu đến gót chân. Cái mùi kỳ lạ, tôi chợt nghĩ hình như đó là cái mùi người...

    Đọc thêm!

    Thứ Bảy, tháng 10 01, 2005

    Trich Trả lời Phỏng vấn tạp chí Nhà quản lý

    Tâm lý chung của xã hội là nhìn khối doanh nhân như con bò sữa, lúc nào cũng muốn vắt sữa. Sữa của con bò doanh nhân đã cho xã hội một cách chính đáng rồi. Đó là, như trên đã nói, thuế đóng cho Nhà nước, giải quyết các mối quan hệ xã hội như tạo việc làm, tăng tiền lương và tự thân doanh nghiệp muốn phát triển cũng phải tạo ra phúc lợi cho cộng đồng rồi. Còn các đóng góp mang tính từ thiện mà cần quyên góp thì nên nhìn nhận thoáng hơn. Đó là phong trào xã hội mang tính nhân bản, phải động viên toàn xã hội chứ không phải nghĩa vụ chỉ của doanh nhân. Và Nhà nước cũng phải có cách nuôi con bò doanh nhân để có nhiều sữa, bằng cách cho nó ăn cỏ đều, chuồng trại tốt. Chính sách tốt, môi trường kinh doanh bình đẳng chính là cỏ và chuồng trại cho con bò doanh nhân.

    Một tâm lý xã hội đáng phàn nàn là phân biệt chủ các doanh nghiệp tư nhân với chủ doanh nghiệp nhà nước. Dường như một số người, trong đó có không ít quan chức, cho rằng tư nhân làm ra tiền cho cá nhân chúng tôi, còn giám đốc doanh nghiệp nhà nước mới làm ra tiền cho nhà nước. Quan niệm ấy là sai. Vạn hành kinh doanh như nhau, có khi hai doanh nghiệp cùng làm 1 mặt hàng, cùng 1 trận địa kinh doanh, nhưng các doanh nghiệp nhà nước có thể được ưu đãi hơn, được sử dụng nguồn lực lớn hơn, được ưu đãi vay vốn hơn, nhưng chưa chắc làm ăn có lãi hơn và cái chính là chưa chắc góp thuế cho nhà nước bằng doanh nghiệp tư nhân, nhiều doanh nghiệp nhà nước lỗ, nhà nước phải chịu. Vậy thì hiệu quả ai hơn ai? Nhưng ông chủ nhà nước thì đi nước ngoài bằng hộ chiếu công vụ, còn ông chủ tư nhân thì được hộ chiếu phổ thông... vân vân. Đấy là chưa kể báo chí xây dựng nên hình ảnh về doanh nhân rất sai lệch, cứ là giám đốc là ăn tiêu xả láng, có thư ký xinh đẹp rồi thì bồ bịch lăng nhăng. Chính báo chí khiến cho xã hội có cái nhìn thiên lệch về các doanh nhân, nay báo chí nên đi đầu trong việc làm cho xã hội hiểu đúng doanh nhân hơn.

    Đọc thêm!

    Thứ Sáu, tháng 9 30, 2005

    Đời vui nhỉ?

    Đời vui nhỉ?

    Trong bài viết về Cuộc thi tiểu thuyết 2002-2004 của Hội Nhà văn Việt Nam, ông Bùi Việt Thắng (đăng trên báo Nhân dân, sau đó VnExpress.net đăng lại) có đoạn viết:

    “Có tác giả trẻ lật lại quá khứ, soi sáng lịch sử như Nguyễn Xuân Hưng với An lạc dưới trời và đã chớm thành công khi tác phẩm đoạt giải thưởng loại B (ý tưởng là táo bạo nhưng khi thể hiện ra câu chữ có vẻ như tác giả trẻ này nhiều chỗ học đòi lối viết của một nhà văn đàn anh nổi tiếng trong lĩnh vực truyện ngắn hiện nay)”

    Ông Bùi Việt Thắng có tên trong danh sách Ban giám khảo cuộc thi tiểu thuyết kể trên. Đây là một bài gần như tổng kết, đánh giá cuộc thi với cái nhìn cá nhân của ông Thắng. Trong bài viết của ông, mỗi khi nói đến cuốn sách nào (trừ An lạc dưới trời), thì gần như ông tóm tắt cuốn ấy nói về cái gì, khen một tý, không chê tý nào, nói chung ông viết với giọng khá trung tính. Nhưng rất lạ là khi nhắc đến cuốn tiểu thuyết của Nguyễn Xuân Hưng thì ông Thắng lại mở ngoặc hạ một câu không nghiêm túc lạ lùng như vậy.

    Thứ nhất, không ai cấm ông Thắng chê. Người viết được phê bình có khi là may mắn. Nhưng vấn đề là thái độ của người phê bình như thế nào?

    Phê bình như ông Thắng mở ngoặc trên đây thì không phải là phê bình tác phẩm, mà là phê bình tác giả “học đòi”. Đấy là nói cho nhẹ đi, đúng ra ông Thắng mắng tác giả “học đòi”. Học đòi cái gì? “Học đòi lối viết”.

    Dường như khi viết bài phê bình đăng trên báo, ông Thắng quên mình là một nhà phê bình, mà lầm lẫn rằng mình đang đứng trên bục giảng, mắng đứa học trò đáng ghét đang nói chuyện trong lớp không nghe ông giảng vậy? Phê bình theo kiểu hạ nhục tác giả như vậy không phải kiểu cách của nhà phê bình chân chính. Tôi từng biết những nhà phê bình rất đáng kính, họ viết phê bình không như vậy. Ông Thắng cũng học đòi làm một nhà phê bình chăng?

    Thứ hai, ông Thắng hạ một câu chung chung, “nhiều chỗ học đòi lối viết của một nhà văn đàn anh nổi tiếng trong lĩnh vực viết truyện ngắn”. Lạ lùng. Ông Thắng đã đưa ra một chuẩn mực của riêng ông, hệ quy chiếu của riêng ông để áp đặt cho bạn đọc. Đến nỗi nhiều người, tất nhiên là cả tác giả cũng ngớ ra hỏi nhau nhà văn đàn anh của ông Thắng là ai. Nhà văn đàn anh ấy của ông Thắng được những ai thừa nhận? Đoạn nào Nguyễn Xuân Hưng học đòi ông ta? Kết quả là, với lối bình phẩm tung hỏa mù, mục tiêu là ông truyền thông điệp cho người đọc bài phê bình của ông rằng “tôi không khoái quyển sách ấy, bạn cũng vậy, đừng thích nó, vì tác giả của nó nhiều chỗ học đòi...”

    Thực ra, chỉ có ông Thắng sợ sệt “một nhà văn đàn anh” của ông đến mức không lúc nào dứt ông ta ra khỏi đầu óc mình, lấy ông ấy làm chuẩn mực mà thôi.

    Tôi từng ước ao được nghe một lời phê bình tử tế, nhưng ông Thắng thì phê bình như trên. Còn ông Giáo sư Phong Lê thì lại nhận xét 1 câu xanh rờn như thế này: “nhớ được một cặp nhân vật là Phạm Kỳ Hoa và Ba Bị Phạm Quý Hào và mối tình xuyên thời gian của họ”. Hỡi ôi, giám khảo mà đọc tiểu thuyết dự thi như thế thì hết lời bàn rồi. Làm gì có mối tình nào giữa hai người ấy trong sách của tôi. Ông Phong Lê chắc là không đọc, viết hồn nhiên quá, còn ông Thắng thì có đọc nhưng đọc với tâm thế của một nguời dạy dỗ viết truyện ngắn.

    Tôi vừa đọc được một bài blog của bạn Nhữ Đình Thuần mang tên “Đời buồn”, nhưng qua đó thì thấy bạn rất vui sống. Tôi bèn đặt tên cho bài báo này là “Đời vui nhỉ?”

    Đọc thêm!

    Thứ Năm, tháng 9 29, 2005

    Núi và Biển (Chuyen tinh tuyet vong)

    Núi và Biển

    1.

    Người đàn bà ngồi trên bờ biển. Sau lưng chị những dãy nhà đã ngủ im lìm, lác đác những con mắt cửa sổ vàng nhạt im lặng. Trước mặt chị biển óng ánh phát lân tinh. Một vệt sáng khác thường khiến biển như cựa mình, chị có cảm tưởng toàn bộ tâm sự rì rầm của biển phát ra từ quầng sáng ấy. Phía trên vệt sáng khác thường đó là một khối vàng óng, trong ngần, từ đó toả ra thứ ánh sáng mơ hồ khắp không gian. Mảnh trăng ấy như vừa bắn vọt lên từ biển.

    Chị cố không nghĩ đến điều gì khác ngoài tiếng sóng, biển và trăng sáng. Ngày hôm qua, tình cờ ông sếp đã chọn chị và một vài người nữa đi công cán đến vùng biển này và thế là cả bọn có dịp xả hơi. Tạm quên cơ quan với những cuộc đấu đá triền miên mệt óc, tạm xa gia đình toàn những việc cũ rích không tên. Mà chị chợt nhớ ra là đã ba năm nay chị chưa hề đi đâu qua một đêm không có gia đình. Một đêm chỉ dành riêng cho bản thân mình như thế này thật hiếm hoi.

    Khi hai chiếc thuyền thúng lững lờ đi qua quầng sáng trên mặt biển, làm cho mặt biển xung quanh nó phát ra những hạt sáng xôn xao. Chị nghiêng tai lắng nghe. Vẫn thứ âm thanh rì rầm quen thuộc nhưng hình như có tiếng nhạc của Traicopxki? Mà có tiếng nhạc thật. Đó là bản "Chèo thuyền" phát ra từ cái điện thoại di động trên tay chị. Một cái tin nhắn. Chị nhìn thấy cái tên người gửi và chợt thất vọng. Trong thời điểm trời biển giao hoà, tình cảm thư thái này, chị cố không nghĩ đến điều gì, cố không vướng "bụi trần", thế nhưng chị biết chị vẫn nghĩ đến một người bạn. Đó là người mà chị thấy tin cậy, tình trong như đã nhưng bề ngoài thì vẫn coi nhau là bạn. Người như thế chị có thể trao gửi một niềm hy vọng. Cuộc sống gia đình hoá ra đã mang lại cho chị quá nhiều gánh nặng. đã có một thời gian, anh ta cũng đã được chị trao gửi một hy vọng. Nhưng bây giờ, quả là chị không nghĩ tới anh ta. Thế mà tin nhắn của anh ta vẫn như những viên đạn bọc kỷ niệm bắn về phía chị. Chị mở tin nhắn: "E di ca ngay the có met lăm 0? Aye. Cho a biet e đg lam gi? Chac là bien dem dep lam?" (Em đi cả ngày thế có mệt lắm không? Anh yêu em. Cho anh biết em đang làm gì? Chắc là biển đêm đẹp lắm?).

    Những chiếc thuyền như những khối đen câm lặng đã đi qua quầng sáng của biển, hình như cũng có một chút xao động, nhưng những chiếc thuyền quá nhỏ nhoi so với biển. Những tia sáng óng ánh vẫn nhảy nhót như chưa hề có chiếc thuyền nào đã chạy qua. Chị hơi khẽ thở dài. Tầm này năm ngoái, nếu nhận được cái tin như thế này, chắc chị sẽ ngất ngây vui sướng. Và chị sẽ vội vàng nhắn lại cho anh ấy. Khi chị đi Huế hội trường, chị sốt kinh khủng, anh đã nhắn cho chị một giờ mười cái tin và hai lần gọi điện. Chỉ có anh mới quan tâm đến chị như thế. Chồng chị cũng không hề biết chị ốm đau hay không. Chỉ có anh ta là người đã quan tâm đến chị, chăm lo cho chị đến mức hơi thái quá. Chị đã hạnh phúc như thể vớ được vật báu. Khi ấy, chị thấy chữ "aye" hiện lên trên màn hình điện thoại, chị cảm thấy như là được uống một thang thuốc thần diệu. Hồi ấy mỗi lần như vậy, chị bèn nhắn lại hối hả: "Eya, eya". Những câu tỏ tình được rút gọn đến tối giản ở thời buổi số hoá này cũng có nội dung mông mênh như thời hồng hoang chỉ vang lên từ những người yêu nhau và chưa hề được ngành ký hiệu học can thiệp vào. Nó là tiếng gõ vào ký ức của loài vật cao cấp nhất có linh hồn trên trái đất. Cái ký ức tình yêu sung sướng mà người ta gọi màu mè là hạnh phúc.

    Thế mà chị cũng không thể ngờ được lại có một ngày như ngày hôm nay, chị lại có thể dửng dưng trước những tin nhắn của anh. Đã là ba cái tin rồi và vẫn như thường lệ, chị im lặng. Chị đã kiên quyết muốn quên cái tình đó rồi. Chị đã nói với anh ta rằng chị phải được sống theo cách sống của mình chứ không phải là của riêng anh. Khi chị tiếp xúc với mọi người, hầu hết đều mang lòng yêu mến chị. Chị đẹp. Toàn bộ của cải cuả chị là vẻ mặt sáng sủa và minh mẫn. Khi những người đàn ông gặp chị, hầu như họ đều có thể nói ra sự ngưỡng mộ của họ. Dĩ nhiên chị không đánh giá được tất cả sự chân thật hay giả dối của họ, nhưng lý luận của chị là hàng ngàn người gặp thì cũng có trăm người biết, trong đó thế nào cũng có chục người thân và rồi thế nào cũng có một hai người quý. Gần đây, chị đã gặp được một hai người quý như vậy. Chị không bao giờ cần quyền và tiền của họ, chị cẩn thận tách những tiêu chí của họ riêng rẽ ra và hành động theo hướng chỉ vị tình. Chính trong những ngày đó, người đàn ông yêu chị có vẻ khó chịu và hay hỏi han chị về các mối quan hệ. Chị đã bực lên khi nhận ra anh ta ngày càng săm soi vào các quan hệ mà chị cho rằng đó là "riêng tư của chị". Anh ta lạnh lùng: "Anh cứ nghĩ anh là riêng tư của em, hoá ra em có nhiều riêng tư khác nữa". Trong câu chuyện của họ bắt đầu có sự chủng chẳng. Cả hai đều mệt mỏi. Hồi xưa, chị mệt mỏi vì gia đình, chị đã tìm thấy anh ta như là chốn nương thân cho tự do của chị. Chỉ có khi ở bên anh ấy, chị mới được là mình. Nhưng rồi sau một thời gian có nhau, chị chợt nhận ra, chính anh ta lại là vật cản trên con đường tự do cá nhân của chị. Chị quá mệt khi phải bứt ra cái lồng sở hữu mà anh ta định nhốt chị vào. Chị đã bực bõ thốt lên: "Em không phải của anh" và hai người đã nói với nhau lời chia tay, nhưng anh ta không chấp nhận thực tế là chị không còn yêu anh ta nữa. Anh ta vẫn kiên trì dai dẳng bày tỏ tình yêu, anh ta chỉ cần ở chị một tình bạn đặc biệt. Nhưng chị không thể... Chị công nhận rằng kỷ niệm mà hai người đã có với nhau là quá sâu sắc, nhưng rồi cuộc sống phải trở lại bình thường. Điều bình thường của chị là quay về với gia đình và tiếp tục chao liệng giữa những người bạn trai hâm mộ chị. Với một hai người bọn họ, chị thấy bình an và vui vầy... Hôm nay, trên bờ biển, ý nghĩ của chị là hướng về một người bạn trai như thế. Đêm qua, anh ấy ở nơi công tác đã nhắn cho chị một cái tin chỉ có mấy chữ: "Đêm buồn nghe lá rụng" Chị đã nhắn lại ngay: "Khoác. KS 5 sao làm gì có lá. Bao giờ a về?". "Anh thơ thẩn ở ngoài. Nhìn trăng nhớ em". "Đường mật quá. Nhớ anh". Rồi chị đợi... Nhưng anh ấy đã im lặng đến bây giờ. Đêm đã khuya lắm, chị dậy ra ngồi bên biển...

    2.

    Người đàn ông ngồi ở hiên nhà. Đằng sau anh là ngôi nhà nhỏ tựa lưng vào núi. Tiếng gió rì rào dường như phát ra từ khoảng cây lá đen sậm ấy. Trăng lên, vườn trước nhà rơi đầy thứ ánh sáng vàng loáng ướt.

    Anh đã trở về ngôi nhà cũ, nơi bố mẹ đã nuôi anh đã lớn lên, bây giờ nhường lại cho chú em. Bao nhiêu năm nay, anh chỉ thường đi qua, ghé thăm em và các cháu. Nhưng hôm nay, bỗng nhiên anh muốn ở lại. Từ đây anh đã lớn lên, đã khao khát đi đâu đến đâu, đã lập gia đình và sinh con đẻ cái. Anh đã tìm thấy tình yêu rồi đánh mất tình yêu... Cuộc sống dường như là một cuộc chơi ú tim vĩ đại. Khi anh từ giã ngôi nhà này, anh mơ tới một chân trời xa xôi... Nhưng rồi có ngày, từ cái chân trời ấy anh lại mơ ước trở về chốn cũ.

    Vào tuổi của anh, không còn trẻ mà cũng chưa già, cuộc sống của người đàn ông không chỉ có gia đình. Anh đã có thể có công danh và tiền tài, nhưng với anh, dường như mỗi lần thần tài lộc ngấp nghé đến lại nhanh chóng ra đi, chỉ có thần tình yêu ở lại. Hơn một năm trước đây, chị đã đáp xuống bên anh với đôi cánh của thần tình yêu mang bộ mặt trẻ thơ. Nhưng đứa bé lớn tướng ấy gần đây dường như đã ra đi. Anh đau đớn vô cùng và cảm thấy bất lực, hay hoài cổ, hay hồi tưởng những ngày hạnh phúc. Anh chỉ biết nhắn cho chị những cái tin yêu đương thắm thiết và quen dần với tình trạng không có hồi âm của chị.

    Giờ đây, anh ngồi ở hiên ngôi nhà tuổi thơ của mình, tìm lại cho mình một khoảng tĩnh lặng hiếm hoi. Trước mắt, một màu sương bàng bạc mơ hồ nhuộm không gian mênh mông trải xuống phía chân đồi. Dường như mọi thứ đều hoà nhập vào nhau, không hình thù và âm sắc. Thế mà anh biết rất rõ, ngày mai sáng ra, khi anh chạy xuống mấy bậc cầu thang, anh có thể nhìn thấy trăm ngàn thứ cây dưới ấy, mỗi thứ cây cỏ lay động một khác, gió lên run rẩy cũng khác nhau. Chỉ có anh gắn bó với khu vườn từ thuở ấu thơ mới có thể hiểu từng thứ cây đến thế. Khi anh nhìn thấy chị trong một hội nghị ngành, chị cũng lẫn vào đám đông sắc màu và dáng hình, nhưng khi có hai người, anh đã phát hiện ra chị một âm sắc khác, một rung động đặc biệt chỉ có anh mới biết... Anh cảm thấy chị ta là một phần máu thịt trong cuộc sống của mình và không thể nào quen được ý nghĩ rồi đây sẽ không còn chị nữa.

    Kể ra, nếu không phải là anh thì đã có thể tạm quên chị ta đi. Cuộc sống vẫn sinh sôi theo cách riêng của nó. Chị ta ra đi, nhưng thần tình yêu của anh vẫn còn ở lại. Tại một diễn đàn khu vực, anh đã gặp lại một người đàn bà khác xa người mà anh đã mến yêu, cả cái cách mà chị quan tâm đến anh cũng khác tất cả những người đàn bà khác. Và thời đại thông tin toàn cầu có cách riêng của nó để làm nên những mối giao hoà. Anh chỉ thấy khó xử một chút, rồi mặc cho sự kiện xảy ra và không tác động gì thêm. Trong thâm tâm anh, anh nghĩ người đàn bà nhắn tin cho anh rồi sẽ bỏ cuộc. Thế giới dù có bình đẳng giới đến đâu, nhưng nếu anh thờ ơ, rồi chị ta sẽ chán. Nhưng hình như anh đã gặp phải một người đặc biệt, chị ta không đếm xỉa đến thái độ của anh mà chỉ tìm cách đạt được hứng thú của chính mình...

    Vào lúc anh đang lắng nghe tiếng dế... Anh có thói quen ấy từ thuở nhỏ. Lúc đầu anh rất sợ đêm, nhất là những đêm trăng vạn vật mờ ảo đầy liên tưởng ma quái, nhưng bố anh đã bảo anh hãy lắng nghe tiếng dế nếu anh đi một mình trong đêm và hãy phân biệt lấy một kiểu âm thanh riêng của một con dế. Không bao giờ chúng kêu giống nhau. Giờ đây, tâm trí anh đã thư thái lại, anh nhớ hình dáng bố cao gầy và khắc khổ, hai bố con mà đi với nhau thì dáng đi giống hệt nhau... Có một tiếng con dế nào tấu lên khúc nhạc Trịnh. Không, đó là con dế mà anh để trong túi quần, nó là cái máy điện thoại di động. Có tin nhắn. "E k ngu, nghe nhạc. A ve que co vui k? E nho em. A nho e k?" (Em không ngủ, nghe nhạc. Anh về quê có vui không? Em nhớ anh. Anh nhớ em không?)

    Anh thấy trống trải. Một sự quan tâm sâu xa đến thế, mà càng làm cho anh thấy như sắp bị rơi xuống sườn núi dưới kia. Bởi vì anh lại nhớ về chị ta, người đàn bà đang ở trên bãi biển. Anh nhắn tin, không phải nhắn cho người đang nghe nhạc. "Em đi cả ngày thế có mệt lắm không? Anh yêu em. Cho anh biết em đang làm gì? Chắc là biển đêm đẹp lắm?" Giờ này đã quá khuya, nhưng anh không ngạc nhiên là điện thoại của anh vẫn báo điện thoại của chị đã nhận.

    Lúc đó trăng đã chui vào một đám mây. Một ngọn gió mạnh lướt trên vòm lá, ánh trăng nhợt nhạt dường như cũng lay động. Còn anh thì ngồi bất động.

    3.

    Bên chị, những con sóng bò đến ve vuốt lên những ngón chân chị mát lạnh. Trong lòng chị lại thấy một thứ hơi nóng khác không hề nguôi. Cồn cào một tiếng gọi mơ hồ. Chợt chị nhìn trăng, cái khối vàng vẹt khuyết kia chắc ngàn năm trước cũng có người như chị đã nhìn thấy và rồi đây cũng sẽ có người khác tiếc cho chị là đã không nhìn thấy nó nữa. Chị nhớ anh, người bạn đầy tin cậy của chị. Người bạn tốt luôn nói những lời nhẹ nhàng với chị, có cảm tưởng anh sẽ hy sinh tất cả cho chị mà không hề trách móc chị vì bất kỳ một lý do gì. Chị quyết định nhắn một cái tin khác: "Bỗng nhớ anh. Anh đã ngủ chưa". Ôi con người vô tâm, chị thầm tiếc cho anh, sao anh không thể ở đây với chị mà lại ngủ say sưa trong một đêm trăng biển đẹp thế này. Lập tức chị có tin nhắn lại, chị hồi hộp nhớ đến anh. Nhưng vẫn lại là anh ta. "Em ngủ chưa? ở đây sắp mưa rất to. Em ngủ ngon nhé"

    4.

    Anh ngồi bất động một lúc lâu. Anh nhắm mắt như ngồi thiền. Anh muốn mình trống rỗng, không ngẫm nghĩ, không nhớ nhung, không gì hết.

    Nhưng trên đầu anh, vạn vật lại đã biến đổi theo kiểu của nó. Mặt trăng đã hoàn toàn bị mây che, chỉ còn một vệt sáng dúm dó. Mây đã biến màu sang xam xám và nhanh chóng ùn lên một nửa bầu trời. Gió mang đầy hơi nước lành lạnh. Núi sau nhà dào dạt thứ âm thanh của gió mạnh. Anh choàng mở mắt, nhìn thấy cả mảng sườn núi phía dưới ngọn cây lay động rất ghê. Sắp mưa.

    Khi những giọt nước đầu tiên rơi trên mái tôn, anh lại thấy điện thoại rung lên từng hồi. Tin nhắn. "Nhạc Bet làm em buồn ngủ. Anh ngủ ngon nhé".

    Anh thở dài, lại nhắn tin. Cái tin của anh lại đến một vùng bờ biển, chứ không trở về ngôi nhà có người đàn bà nghe nhạc. Để rồi, từ bờ biển ấy, lại một cái tin tìm đường đến với một người đàn ông khác đã ngủ ngon lành có thể là trong vòng tay của một người đàn bà khác nữa.

    Trong khi anh nhìn lên đỉnh núi đầy mưa mịt mùng, luyến tiếc mặt trăng đã khuất, thì chị ngồi say sưa với ánh trăng đang liên hoan trên mặt biển... So với mặt trăng, vệ tinh viễn thông của thời hiện đại thật là thô thiển thảm hại. Tình trăng có từ thuở hồng hoang...

    24/5/2003

    Đọc thêm!

    Thứ Tư, tháng 9 28, 2005

    Cáo và thợ săn (tiếp theo)

    Anh chàng thợ săn bèn nói: "Được, nghe đây...". Nói rồi huýt gió thật to. Ngay lập tức ngưòi vợanh thợ săn xuất hiện. Cáo ngạc nhiên tột độ.
    Cáo nói: "Tôi tưởng cô đã chết, đang định báo thù cho cô"
    Cô vợ thợ săn nói: "Tôi không những không chết, mà còn sống lại thêm một lần nữa"
    Cáo càng ngạc nhiên. Vợ người thợ săn nói: "Chúng tôi sẽ có em bé"
    Cáo ngẫm nghĩ và đồng ý chung sống hoà bình với hai vợ chồng người thợ săn.
    Đáng lý loài cáo tuyệt chủngtrên thế giới này, nhưng vì có sự bảo ban của người vợ người thợ săn, nên loài cáolại sinh sôi, nhưng sau đó chúng thường tránh người mà chỉ vồ... gà mà thôi. Đọc thêm!

    Thứ Ba, tháng 9 27, 2005

    Trò chuyện với nhà văn Nguyễn Xuân Hưng, tác giả của bộ tiểu thuyết An Lạc Dưới Trời

    Bài này tôi đã post tuần trước, nhưng hình như đã convert font chữ chưa chuẩn, nên có một số bạn comment đến nói là không đọc được, hôm nay tôi post lại


    Bối cảnh của tiểu thuyết là những năm giao thời giữa thế kỷ 16 và 17. Khi đó Nguyễn Hoàng từ kinh đô vào trấn thủ Thuận Hoá và Quảng Nam đã được gần 50 năm. Bộ sách gồm 2 quyển. Quyển 1 “Vườn An Lạc ”chủ yếu kể về những sự việc xảy ra ở phủ Kinh Môn và kinh thành Đông Đô, đặc biệt là trong khoảng thời gian Nguyễn Hoàng kéo quân vào Thuận Hoá lần cuối cùng. Quyển 2 “An Lạc dưới trời ”kể về những ngày hành phương Nam của những nhân vật chính. Qua biến thiên của các sự kiện, hai nhân vật nam nữ chính gặp nhau và họ tìm thấy hạnh phúc trong an cư lạc nghiệp.

    “Đây là một bài ca ca ngợi lao động và trí tuệ, kính dâng những bậc tiền bối đã có công từ Thăng Long mang gươm đi mở nước, nêu cao tinh thần đoàn kết dân tộc của tiền nhân” (Tạp chí Nhà văn Việt Nam số 10/2003 đã trích đăng 8 chương đầu của bộ tiểu thuyết này và trong lời giới thiệu đã khẳng định như trên).

    Thưa nhà văn Nguyễn Xuân Hưng, bộ tiểu thuyết Vườn An Lạc và An Lạc dưới trời có phải là bộ tiểu thuyết lịch sử không?

    - Nhà văn Nguyễn Xuân Hưng: Tiểu thuyết lịch sử ư? Việc phân loại thể loại tiểu thuyết là công việc của nhà phê bình, hay do độc giả, hay là do chính bạn. Còn tôi, khi đặt bút viết, tôi chỉ tâm niệm rằng tôi sẽ viết một bộ tiểu thuyết. Tôi quan tâm đến nhân vật, cốt truyện, bối cảnh… vân vân… Nghĩa là tôi hoàn toàn không nghĩ mình phải viết cho ra một tiểu thuyết lịch sử hay không phải tiểu thuyết lịch sử?

    Vậy quan niệm của anh về tiểu thuyết lịch sử ?

    - Nhà văn Nguyễn Xuân Hưng: Khi tôi khi đặt bút viết, chỉ có một tâm nguyện là trải hồn mình lên tác phẩm, sáng tạo lên một thế giới riêng, mà bối cảnh là một thời kỳ lịch sử. Tôi không quan niệm là cứ phải viết như những người viết trước đây đã viết tiểu thuyết đề tài lịch sử. Nếu như cứ viết như các nhà viết tiểu thuyết đã viết về đề tài lịch sử thì mới là “tiểu thuyết lịch sử” thì xin được đặt tôi ra khỏi sự phân loại ấy.

    Nhưng có một nhà văn chuyên viết tiểu thuyết về lịch sử của Việt Nam cho rằng, cần phân biệt tiểu thuyết lịch sử là khai thác lịch sử và phải tôn trọng lịch sử, khác với tiểu thuyết lãng mạn, tiểu thuyết võ thuật. Vậy ý kiến của anh như thế nào?

    -Nhà văn Nguyễn Xuân Hưng: Điều đầu tiên là khi anh viết về bất cứ một giai đoạn nào trong suốt chiều dài lịch sử của dân tộc, anh đều phải trung thành với các sự kiện lịch sử. Điều này không chỉ là nghĩa vụ của các nhà văn viết về giai đoạn lịch sử đã xa, mà ngay viết về thập kỷ trước, năm ngoái, anh cũng phải trung thành với sự thật. Nhưng không có nghĩa là nhà văn làm công việc sao chép và minh họa lịch sử, nhà văn không phải là nhà sử học, không phải nhà nghiên cứu văn hóa dân gian, mà đầu tiên và mãi mãi phải là nhà văn.

    PV: Xin anh nói rõ hơn?

    -Nhà văn Nguyễn Xuân Hưng: Nếu chỉ vì viết tiểu thuyết về đề tài lịch sử mà tôi được gọi là nhà nghiên cứu lịch sử thì tôi thấy đó là một điều đáng buồn. Bởi vì thứ nhất là xúc phạm các nhà nghiên cứu lịch sử, và thứ hai là, có lẽ qua tiểu thuyết của tôi, người đọc đã không nhận ra tôi là một nhà văn nữa. Khi Nguyễn Du viết truyện Kiều, Nguyễn Du sống vào thời nào, tương ứng với triều đại nào của Trung Quốc, thế mà truyện Kiều viết về thời kỳ lịch sử nào? Đó là năm Gia Tĩnh triều Minh. Alexander Dumas viết Ba chàng lính Ngự Lâm, hay Víchto Huygo viết Nhà thờ Đức bà, hay Lep Tonxtoi viết Chiến tranh và Hoà bình… Các ông đều sống cách thời kỳ miêu tả trong tác phẩm rất xa, sao không gọi các tác phẩm ấy là “tiểu thuyết lịch sử”? Hay là họ đã xuyên tạc lịch sử ư? Kim Dung viết các tiểu thuyết lấy bối cảnh là thời kỳ Tống, Nguyên, Minh, Thanh có phải đã không trung thành với lịch sử không?

    PV: Tạm đồng ý với anh là không nên cho cái gọi là “tiểu thuyết lịch sử” một cái áo, nhưng có ý kiến cho rằng anh đã hư cấu quá nhiều?

    -Nhà văn Nguyễn Xuân Hưng: Đó là chê hay khen đấy nhỉ? Nhà văn khác nhà sử học ở điều duy nhất là anh được hư cấu, hay là đúng hơn là anh phải hư cấu trong tác phẩm của anh. Kinh Kha đi ám sát Tần Thủy Hoàng, Tư Mã Thiên chỉ viết 2 trang trong chương “Thích khách liệt truyện” của Sử ký, thế các nhà làm kịch bản phim “Lửa thiêu cung A Phòng” đã dựng đến 30 tập, rồi Trương Nghệ Mưu làm phim “Anh hùng” lại khác hẳn... Bộ tiểu thuyết của tôi viết về thời kỳ giao thời giữa thế kỷ 16 và thế kỷ 17, thời kỳ Nguyễn Hoàng kéo quân vào Đàng Trong, có thể trước tôi có rất nhiều người viết về Nguyễn Hoàng, nhưng Nguyễn Hoàng trong tác phẩm của tôi là “ông già mắt cú” của riêng Nguyễn Xuân Hưng. Tôi rất khâm phục các nhà sử học, bởi vì thứ nhất tôi không thể làm công việc của họ, họ làm khoa học, họ tư duy logic, còn tôi là nhà văn, tôi để trí tưởng tượng bay bổng, dựng lên một thế giới của riêng tôi, tôi tư duy bằng hình tượng. Nhưng nếu không có các nhà sử học, thì đôi cánh của trí tưởng tượng của tôi chỉ là đôi cánh mà giống như không có cơ thể của loài chim, không thể bay lên được. Trong tiểu thuyết của tôi, tuyệt đối không có chi tiết nào không đúng với chính sử. Chỉ có các sự kiện mà chính sử không chép mà thôi, và nếu có một nhân vật là nhà sử học sống vào giai đoạn đó, ắt hẳn ông ấy sẽ chép hoặc làm chứng cho tôi đúng là như vậy.

    * PV: Vì sao anh lại chọn thời kỳ Nguyễn Hoàng kéo quân vào Đàng Trong để làm bối cảnh cho bộ tiểu thuyết của mình?

    -Nhà văn Nguyễn Xuân Hưng: Đó là giai đoạn mở đầu cho việc khai phá phương Nam, là một giai đoạn đầy kịch tính, khi Nguyễn Hoàng bỏ Thăng Long vào Đàng Trong, bắt đầu hơn 200 năm các chúa Nguyễn rồi đến 143 năm các vua Nguyễn. Nhân vật lịch sử Nguyễn Hoàng là một nhân vật được sử sách qua các giai đoạn viết với thái độ rất mâu thuẫn. Riêng tôi, tôi cho rằng, ông đã sống với thời đại của mình, là một người quả cảm, là một người cầm quyền khôn khéo, một người chinh phục và khai phá đất đai, chinh phục nhân tâm. Đối với lịch sử dân tộc, ông cũng xứng là một người có công, một anh hùng dân tộc. Song, trong bộ tiểu thuyết của tôi, bối cảnh lịch sử chỉ là cái khung và tôi treo bức tranh tác phẩm vào đó. Nói chung các nhân vật chính lại là các nhân vật hư cấu, các nhân vật lịch sử có thật thì chỉ là các nhân vật phụ, kể cả Nguyễn Hoàng.

    * PV; Đây là độ tiểu thuyết đầu tay anh trình làng mà lại được giải cao. Giải B trong cuộc thi tiểu thuyết 2 năm 2002-2004 của Hội Nhà văn, có người cho rằng anh là người sát giải, anh nghĩ như thế nào?

    -Nhà văn Nguyễn Xuân Hưng: Dự thi văn chương không chỉ nhằm vào cái thú được giải. Điều thú vị đầu tiên là được một tầng nấc nhiều người đọc không phải độc giả thông thường. Họ là những nhà văn tên tuổi sáng láng, kể cả những nhà văn yêu thích mình lẫn những người mình biết trong làng văn họ không thích mình, mà vẫn phải đọc tác phẩm của mình. Cái thú cuối cùng mới là thú được giải. Nhưng giải thưởng văn chương chỉ như một sự may mắn, nếu ban giám khảo khác, có thể anh sẽ được giải cao hơn hoặc chẳng được gì. Nhà văn sống trước hết là nhờ có độc giả rộng rãi.

    *PV: Thưa nhà văn trong An lạc dưới trời, có cảm giác anh đã tận dụng và khai thác triệt để các cảnh ăn chơi của quan lại, miêu tả tình dục có phần đi hơi quá, điều này có phải là việc làm cho phong phú và tươi mới thêm cho bộ tiểu thuyết về đề tài lịch sử vốn bị coi là khô khan?

    - Nhà văn Nguyễn Xuân Hưng : Giống như phim ảnh thì việc mô tả các cảnh tình cảm trong tiểu thuyết giống như người đi trên dây, nếu vừa phải thì anh thăng bằng còn nếu quá lên thì là sa vào nguy hiểm và thấp kém. Tôi đã suy nghĩ rất nhiều và tôi chỉ động đến các chi tiết ấy khi nào chúng góp phần khắc họa tính cách nhân vật, phục vụ cho cốt truyện. Lịch sử vốn là như vậy, không có lịch sử khô khan. Đề tài lịch sử bao giờ cũng gây cảm hứng cho tôi, tôi không quan niệm về các bài học lịch sử là khô khan.

    PV: Trong cuốn tiểu thuyết, anh đã đề cập đến nhiều vấn đề, việc ra đời chữ quốc ngữ, sự xuất hiện đầu tiên của Thiên chúa giáo (nhân vật Pinô người Bồ), việc kinh doanh buôn bán với nước ngoài của cácthương gia (Bá Hòe, phó Bạc), bang giao với phương Tây, lựa chọn sự tiên tiến và lý luận lạc hậu, chế tác các vũ khí mới... Vậy chung quy thông điệp của anh là gì nữa?

    Nguyễn Xuân Hưng: Tiểu thuyết này phản ánh một thời kỳ hào hùng của dân tộc. đại Việt trước kia cô lập với thế giới, đến giai đoạn Nguyễn Hoàng thì Đại Việt đã là một bộ phận của thế giới, lúc đó dân tộc ta đứng trước sự lựa chọn mở cửa và khép kín, đối đầu và đối thoại, văn minh và lạc hậu, học thuyết mới và cổ điển... Tất cả các vấn đề này được giải quyết ở thời kỳ hình thành nên Đàng Trong được các chúa Nguyễn giải quyết rất triệt để. Thay cho việc lấy nông tang làm căn bản, các chúa Nguyễn đã lấy thương gia, dựa vào xây dựng các khu thương mại làm chỗ dựa. Đó là giai đoạn khởi đầu của miền Nam và là giai đoạn cách tân đáng nhớ của dân tộc, đó là giai đoạn kịch tính mà con người bộc lộ được số phận. Một thông điệp cuối cùnglà giấc mơ về Vườn An Lạc, giấc mơ về hạnh phúc, khi đó con người Đàng Ngoài chật cứng lễ giáo chỉ có thể thấy ở miền đất mới Phương Nam. Tôi tin rằng tôi đã phản ánh đúng tinh thần và sự sôi động của thời kỳ lịch sử này.

    * PV; Ngoài số phận của các nhân vật chính như Kỳ Hoa, Ba Bị, Nguyễn Hoàng, Triệu Quận công ... theo tôi một nhân vật rất ấn tượng đó là Tổng Binh Văn Thụ, nhân vật tri thức, toàn tài, có lối suy nghĩ cách tân, nhưng không được triều đình trọng dụng mà phải chết, tại sao vậy ?

    -Nhà văn Nguyễn Xuân Hưng: Kẻ sĩ trong các triều đại phong kiến luôn luôn được thấm nhuần tư tưởng trung quân, ái quốc. Những trí thức hàng đầu của thời đại thường có những kiến giải, kiến thức vượt thời đại, và nói chung bi kịch là triều đình không hiểu được. Tổng binh Văn Thụ đã đã tiếp thu các kiến thức văn minh của thế giới phương Tây, mong sớm áp dụng khoa học tiên tiến, canh tân đất nước. Các chúa Nguyễn cũng là những vị minh chúa, đã khai phá, chinh phục Đàng Trong, yên dân, nhưng chưa đủ tầm để đồng cảm với cách nghĩ canh tân đất nước của một trí thức như Văn Thụ. Qua nhân vật này, tôi muốn đưa ra một thông điệp về bài học dùng người, một điều mà các triều đại phong kiến nước ta rất trăn trở, đã khắc thành bia đá trong Văn Miếu triết lý “hiền tài là nguyên khí quốc gia”, nhưng từ lý thuyết đến thực tế là cả một khoảng cách.

    * PV: Nhân vật Phạm Thị Kỳ Hoa xuất thân con quan, lớn lên trong cảnh lá ngọc cành vàng, đã có một mối tình với một công tử Thăng Long nhưng không thành. Vì sao nhà văn lại cố ý đưa đẩy và gán cô ấy với chàng Ba Bị, một nhân vật du thủ, du thực?

    - Nhà văn Nguyễn Xuân Hưng: Trong đội quân của Nguyễn Hoàng chinh phục phương nam có có quí tộc, có du thủ du thực, có những anh hùng hảo hán... Họ có thể có địa vị xã hội khác nhau ở Đàng Ngoài chật cứng lễ giáo, nhưng họ đều là các cá nhân có sức sống mãnh liệt. Nếu không thế, thì họ làm sao sản sinh ra hậu duệ là các thế hệ chinh phục được cả dải đất phương Nam. Khi thoát khỏi lễ giáo của xã hội Đàng Ngoài, họ đến Đàng Trong, một dải đất mà lễ giáo lỏng lẻo, con người đối diện với thiên nhiên, với sự sinh tồn, được sống thực với mình. Kỳ Hoa, một nữ tính điển hình chỉ có thể an cư lạc nghiệp với một con người nam tính mạnh mẽ.

    * PV: Tiểu thuyết của anh, anh không cho là tiểu thuyết kiếm hiệp nhưng nhân vật chính nào cũng biết võ và rất nhiều cảnh giao đấu võ thuật, anh giải thích điều này như thế nào?

    - Nhà văn Nguyễn Xuân Hưng: Nhân vật Ba Bi là một anh chàng ngang tàng phóng túng, vô gia cư, nên anh ta có võ, đấy là do anh ta chứ không phải tôi “cho” anh ta có võ. Kỳ Hoa trong bản thảo đầu tiên là một nhân vật yểu điệu thục nữ, nhưng tôi nghĩ lại, một yểu điệu thục nữ khi xảy ra một cuộc thiên di lớn như vậy thì sẽ có số phận khác, chứ không thể có cảm hứng liên hệ với các nhân vật khác như tôi đã viết. Một nhân vật nhà sư có luyện võ, một vị Quận công Đô đốc cũng có võ công, đó cũng là thực tế khách quan, chứ tôi không cố tình làm ra, hay cố gán cho họ có võ công.

    *PV: Anh là một nhà văn còn trẻ mà đề tài lịch sử lại là một đề tài dường như cần sự chiêm nghiệm, cần sự từng trải, vậy anh viết bộ tiểu thuyết “An Lạc dưới trời” có nghĩ đến sự thuyết phục đối với độc giả hay không?

    -Nhà văn Nguyễn Xuân Hưng: -Tôi không còn trẻ, có thể tôi bắt đầu đến với sự nghiệp văn chương hơi muộn mà thôi. Tiểu thuyết về đề tài lịch sử không phải là độc quyền của những nhà văn già, có thể đề tài lịch sử cần sự hiểu biết nhất định về lịch sử, về văn hoá dân tộc và điều đó cần người viết đến độ tuổi tác nhất định. Nhưng có một đặc điểm là, dù tác giả có già đến mấy, thì cũng giống người trẻ một điều, đó là tất cả đều không chứng kiến, không sống thực ở giai đoạn lịch sử đó. Cản hứng về lịch sử và cảm nhận tinh thần lịch sử thì không phải đặc quyền của riêng ai.

    Thực hiện Nguyễn Thị Bích Yến 15/8/05

    Đọc thêm!

    Cáo và thợ săn. (tiep theo)

    Hôm sau, người thợ săn đi về phía bìa rừng, bẻ gẫy khẩu súng dài rồi vứt xuống tuyết. Sau đó, người thợ săn làm bẫy để bẫy cáo. Nhưng khi người thợ săn đang dùng khẩu súng ngắn bắn một tia nước mầu trắng xuống tuyết, thì cáo đã từ chỗ mật phục, xông lên ngoạm chặt lấy khẩu súng ngắn bảo bối của người thợ săn. Còn anh thợ săn cũng giữ chặt lấy súng của mình. Hai bên giằng co. Người thợ săn điều đình: “Mày trả súng tao, tao và mày sẽ chung sống hòa bình” Cáo không chịu: “Mày đã giết cả họ nhà tao ở rừng này, sao lại có thể chung sống được”

    Anh thợ săn nói: “Nhưng bây giờ tao đã thua, tao xin giữ chữ tín”

    Cáo cười ầm lên: “Mày mà cũng nói đến chữ tín ư? Đến vợ mày mà mày còn không tha, dùng súng này làm nó bị chết, nó chống cự cũng hăng, mà mày vẫn giết nó được. Nhưng tao không hiểu một điều...”

    “Nói đi, tao trả lời, mày tha cho tao chứ?”

    Cáo ngẫm nghĩ rồi nói: “Được. Tao hỏi đây. Mày bắn loài cáo bằng súng dài, chúng tao căm thù mày. Nhưng khi mày giết vợ mày bằng khẩu súng ngắn này, tao không hiểu nổi tại sao nó chết mà vẫn nở nụ cười sung sướng?”

    Anh chàng thợ săn bèn nói:

    Đọc thêm!

    Thứ Hai, tháng 9 26, 2005

    Chuyện vui: Cáo và thợ săn. (Tiep theo)

    (Tiep theo)

    Cáo bèn bắt người vợ thợ săn cho xem vết thương. Xem xong, cáo hoảng sợ kêu lên: Khủng khiếp quá. Rồi chạy vụt vào rừng, núp thật kỹ.

    Nhưng rồi sau mấy hôm, hoàn hồn, con cáo đó lại tính chuyện báo thù. Cáo nghĩ: Súng dài thì mình biết quá rõ, nhưng không biết khẩu súng ngắn của nó sử dụng như thế nào, phải biết rõ mới thắng được nó. Cáo theo dõi kỹ đối tượng, mò đến mai phục ở nhà người thợ săn.

    Người thợ săn đi rừng về, phàn nàn với vợ: “Còn một con cáo khôn, mà mấy hôm nay tìm mãi không thấy để diệt nốt”

    Người vợ bảo: “Mình đừng truy tìm nó nữa. Hôm nay nó vồ em, em hứa với nó là anh phải vứt súng đi, nó mới tha” Người chồng gật: “Được, vì em anh phải giữ chữ tín”

    Hôm ấy, sau bữa ăn, bỗng cả hai vợ chồng mang súng ngắn của chồng ra lau chùi, bảo dưỡng. Rồi, rất lạ lùng, anh chồng bèn dùng súng ấy bắn cô vợ bằng những động tác rất khác thường. Lát sau, cô vợ từ từ lịm đi, nhắm mắt, nhưng trên môi nở một nụ cười. Cáo thấy cô vợ người thợ săn đã chết, nó hoảng hốt chạy biến vào rừng.

    Hôm sau....

    (Còn nữa)

    Đọc thêm!

    Chủ Nhật, tháng 9 25, 2005

    Chuyện vui: Cáo và thợ săn.

    (Sau mấy bài quá nghiêm túc, tôi xin cung hiến 1 vài câu chuyện vui để các bạn thư giãn)

    Một người thợ săn rất giỏi đã tàn sát hầu như tất cả loài cáo trên trái đất. Cho đến khi chỉ còn một đôi cáo còn rất trẻ sót lại. Con cáo đực nhát trốn trong rừng, còn con cáo cái quyết tâm báo thù.

    Cáo theo dõi người thợ săn, nhưng dường như càng theo dõi thì càng không hiểu anh thợ săn nên chưa dám xuất chiêu và thận trọng tính toán. Nó bèn rình ở bến nước, nơi vợ của người thợ săn vẫn thường đến tắm táp, giặt rũ. Một hôm, cáo xông đến chồm lên, vồ lấy cô vợ anh thợ săn. Cô vợ quay đầu bỏ chạy. Cáo chỉ vồ được sau gáy, tóc cô ta lại dày, nên cáo không làm gì được, mà cô này lại nhất định không quay mặt lại để cáo ngoạm.

    Cô vợ người thợ săn van xin: “Hãy tha cho tôi, tôi sẽ bảo chồng tôi không bắn cô cáo nữa”. Cáo nghi ngờ: “Mày nói nó có nghe không?”. “Nghe chứ”, cô vợ trả lời. Cáo hỏi: “Vậy mày có biết rõ chồng không?”. “Ta biết rất rõ”. “Vậy nghe ta hỏi đây...” Cáo nói, “Nếu mày nói rõ cho ta, ta sẽ tha mày”

    Cô vợ người thợ săn đồng ý.

    Cáo bèn hỏi: “Ta thấy chồng mày có khẩu súng dài, chính vì khẩu súng đó đã giết cả loài nhà tao. Khẩu súng dài lợi hại thật, khi nó bắn phụt ra khói, tuyết thủng một lỗ to tướng, mãi mới liền được”

    Cô vợ thợ săn nói: “Tôi sẽ bảo chồng tôi vứt khẩu súng đó đi là được chứ gì?”

    Cáo vội nói: “Nhưng tao lại thấy chồng mày có một khẩu súng ngắn, khi nó bắn ra tia nước, tuyết rẽ ra hai bên. Tao chưa thấy nó dùng khẩu súng ấy để săn bắn. Có phải là bảo bối gì không?”

    Vợ thợ săn nói: “Khẩu súng ấy lợi hại lắm, nó bắn tôi một phát mà vết thương không sao liền lại được”

    Cáo bèn...

    (Còn nữa)

    Đọc thêm!

    Thứ Bảy, tháng 9 24, 2005

    Chúng ta sống ở đâu trên thế giới này? (Tiếp theo- Kỳ 3: Một dòng đời đầy sức sống)

    Một dòng đời đầy sức sống.

    Tôi tìm đến với các weblog với cái nhìn của một nhà báo chuyên nghiệp, nhưng khi “tiếp xúc” với các blogger, chính tôi lại trở thành một blogger..

    Dường như có một dòng chảy đời sống khác đang âm ỉ như suối nguồn, như mạch nước trong lòng đất, như hạt tích nước trên chín tầng mây. Đó là một dòng đời ảo, nhưng lại nói với chúng ta rằng, nó đang chuyên chở sức nặng của những tâm hồn đang sống thật. Hàng ngàn người đã viết thư cho Phan Văn Hòa đồng cảm với anh khi anh ghi lại tâm sự trong những ngày chăm sóc người vợ bị bệnh ung thư. Tôi chắc là có nhà văn cũng đã vào weblog nổi tiếng này. Những dòng viết từ trái tim của cả chủ và khách khiến tôi cảm động. Và còn biết bao blogger khác nữa, họ không định làm văn, những con chữ của họ không là loại văn thơ mà văn đàn đang ồn ào, tốn công sức tung hô hay vùi dập, nhưng lại lay động tâm hồn người đọc. Họ không định làm báo, nhưng những gì họ kể là một phần đời đầy sống động, tươi mới.

    Từ xưa đến nay, nhà báo là người khá am hiểu đời sống, nhà văn là người hiểu biết tâm hồn con người, đó là một mệnh đề gần như chân lý. Nhưng hiện nay, chúng ta đang sống trong một thế giới đầy biến động, chưa nói to tát đến chuyện khác, cái máy tính hàng ngày trước mắt mọi người, nhưng nó làm biến đổi cuộc sống ra sao, làm thay đổi tư duy và tâm hồn con người thế nào thì hẳn chưa mấy ai hình dung được. Chúng ta hối hả nâng cấp phần cứng, chạy đua update (cập nhật) phần mềm; chúng ta thấy giá trị phần cứng giảm từng ngày, các version (phiên bản) phần mềm tăng số và thông minh lên từng ngày. Điều đó liệu có tác động đến hành vi của con người trong xã hội hay không? Hỡi ôi, trong đầu óc của bạn nhà văn của tôi, trong tư duy của nhà phê bình đáng ghét mà tôi thấy, trong trang viết của đa số chúng ta dường như những phần cứng, phần mềm chưa được nâng cấp, chưa từng được cập nhật.

    Tôi hình dung đến một ngày, Hội Nhà văn sẽ có một cổng thông tin thực sự, trên đó các blogger có chỗ chính thống để bàn luận chuyện văn chương, chuyện tâm hồn, bạn đọc có dịp trực tuyến trao đổi với chính các tác giả về những gì họ viết, họ đã và sẽ viết, và về thời thế. Đó thực sự là một lần nữa văn học và nhà văn thâm nhập vào đời sống, một kiểu đi thực tế trong tình hình míi. Không phải chỉ là nhà văn đi ô tô xuống địa phương, mà đó là sự hiện diện của tư cách nhà văn, sự tham gia của nhà văn vào dòng chảy đời sống đương đại, một dòng chảy mạnh mẽ không thể đảo ngược được. Tôi lẩn thẩn nghĩ rằng, cần nắm lấy thế mạnh mà đời sống mang lại, tham gia vào nó hay chí ít cũng nên có ý muốn chung sống với nó thì mới mong thấu hiểu được nó. Mà đáng giận thay, “nó” chính là cuộc sống hiện tại và tương lai. Nhu cầu thâm nhập đời sống, tham gia vào thị trường báo chí hiện đại, phản ánh mọi khía cạnh của đời sống là nhu cầu lớn, còn diễn đàn để tranh luận văn chương chỉ là một mặt hoạt động rất nhỏ mà thôi.

    Hiện nay, bạn đọc mạng, “dân lướt net” đa số là những người trẻ tuổi, chủ nhân tương lai của đất nước, và một bộ phận trí thức ở các công sở, cơ quan, doanh nghiệp, đó chính là đối tượng tiềm tàng tham gia “thị trường” chính yếu của văn hóa phẩm, sao các nhà văn lại “sơ ý” chậm tiếp cận?

    Đọc thêm!

    Giới thiệu blog này với bạn bè

    Tên bạn:
    Email:
    Email bạn bè:
    Ghi chú:

    Tell a Friend Form Version 3